Hiển thị các bài đăng có nhãn tòa_án. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tòa_án. Hiển thị tất cả bài đăng

TIỀN “TẤU HÀI” MIỄN PHÍ LẦN 2




Lần trước, Quý vị khán giả đã được xem, nghe nói đến màn “Tấu Hài Miễn Phí” diễn ngày 10/9/2008 tại trụ sở Tòa án quận 3 (Địa chỉ: 139 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh). Bây giờ, trước khi “Tấu Hài miễn phí” màn 2 cảnh 2 chuẩn bị “diễn”, mời Quý vị xem trước màn “Tiền Tấu Hài” này:

“Tiền” đây không phải là tiền bạc, mà “tiền” (?) là trước, đối nghịch với “hậu” (?, ?) là sau. Tiền tấu hài là thủ thuật trình diễn trước một tiểu phẩm tấu hài trên sân khấu. Trong nghệ thuật hát bội, hát tuồng, chèo trước khi mở màn hát chính thức thì có chú Tễu nhí nha nhí nhảnh chạy ra trước múa may dẫn truyện gọi là “giáo đầu”. Khác với chú Tễu giáo đầu tuồng làm cho khán giả vui vẻ, tươi cười, thích thú với nội dung tuồng tích được Tễu tóm tắt giới thiệu trước; “Tễu” của Tòa Án Thành phố Hồ Chí Minh làm cho khán giả cười không nổi.

Số là ngày thứ 6 tuần trước, Tòa án Thành phố HCM gởi giấy triệu tập bị cáo Dương Thị Tân do Thẩm phán Trần Xuân Minh ký.

Giấy triệu tập ghi rõ: “Đúng 8 giờ 30 phút ngày 25 tháng 11 năm 2008 có mặt tại Tòa Hình sự - Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh - 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa,Quận 1 (gặp thư ký Thu Thủy). Bị cáo mang theo giấy chứng minh nhân dân. Để được thông báo xét xử”.

Khi chị Tân đến đúng giờ, gặp đúng người thì “Tễu” ta lấy bút ghi thêm vào giấy ngay dòng “Để được thông báo xét xử” mấy chữ “vào lúc 7h 30’ ngày 04/11/2008” rồi bảo chị Tân cứ đúng giờ đó ngày đó đến Tòa án để tham dự phiên tòa phúc thẩm. Chị Tân thắc mắc tại sao không tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập bị cáo như phiên xử sơ thẩm thì “Tễu” ta bảo là phúc thẩm thì không cần cái đó.

“Giáo đầu” tiền “tấu hài” lần này quả là dở tệ. Thư ký Tòa án cấp thành phố (mà thành phố to nhất nước nữa à) không biết học hành thi cử thế nào, lại không rành Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự nên không biết các Điều 178, 182, 183, 247, vì vậy mới trả lời thắc mắc của chị Dương Thị Tân trớt he như vậy.

- Không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lấy gì mà mở phiên tòa, lấy căn cứ nào để triệu tập bị cáo ra Tòa?

- Không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo làm sao biết thành phần Hội đồng xèt xử, đại diện Viện kiểm sát, Thư ký phiên tòa là ai, có mâu thuẫn, thù oán “đâm cha thuốc chú”, “giành ruộng cướp trâu”, “giựt chồng đoạt vợ”… gì với mình không mà đề nghị thay đổi hay không thay đổi các vị ấy cho việc xét xử được công bằng, khách quan như luật quy định?

- Không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì biết xét xử ở địa điểm nào, thời gian nào, bị xét xử tội gì, có đúng tội danh cáo trạng truy tố hay xử tội khác?

- Không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo làm sao biết có ai làm Luật sư bào chữa cho mình không, Luật sư do gia đình mời có vừa ý bị cáo không, mà lo trước kiếm thêm hay từ chối ông (bà) Luật sư đó?

- Không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì biết xét xử công khai hay xử kín mà thông báo cho thân nhân, bạn bè, người quen, báo chí đến tham dự?

- Căn cứ khoản 1 Điều 182 BLTTHS, nếu ngày hôm nay (25/11/2008) Tòa án thành phố Hồ Chí Minh giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Tân thì phiên tòa cũng không thể xét xử vào ngày 4/12/2008 được vì Quyết định giao cho bị cáo quá trễ, vi phạm vào điều khoản “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa”.

Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định thì Tòa án Việt Nam chỉ xét xử với hai hình thức là xử công khai hoặc xử kín, điều này phải được ghi rõ trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nay Tòa án thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm 2 bị cáo Nguyễn Văn Hải, Dương Thị Tân mà không có Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên cả bị cáo lẫn người dân quan tâm đến vụ án không biết Tòa sẽ xử công khai hay xử kín, hay là Tòa án thành phố Hồ Chí Minh muốn xử lén chăng? Xử lén tức là lén lén xử không cho ai hay biết, lấm la lấm lét, “Len lét như rắn mồng năm”. Kiểu xử lén này không được quy định trong bất cứ bộ luật thành văn nào, họa chăng là chỉ có trong miệng những kẻ tự cho phép mình hành xử bằng thứ luật không thành văn, mà dân gian hay gọi là “luật rừng”!


Tạ Phong Tần

. ____________________

Bài liên quan:

Vụ án Điếu Cày: “Trốn thuế” hay “Nạn nhân của mưu đồ chính trị”?

Tôi bị cản trở đến phiên tòa xét xử Điếu Cày như thế nào

Xung quanh phiên tòa trá hình: Nhà cầm quyền đã tự lột mặt nạ của mình

. ___________

Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự:

Điều 178. Nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ:

1. Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;

2. Tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát áp dụng đối với hành vi của bị cáo;

3. Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

4. Xử công khai hay xử kín;

5. Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, nếu có;

6. Họ tên Kiểm sát viên tham gia phiên toà; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có;

7. Họ tên người bào chữa, nếu có;

8. Họ tên người phiên dịch, nếu có;

9. Họ tên những người được triệu tập để xét hỏi tại phiên toà;

10. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà.

Điều 182. Việc giao các quyết định của Tòa án

1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa.

Điều 183. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa

Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.

Điều 247. Thủ tục phiên toà phúc thẩm

Phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị. Khi tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Đưa người vào lịch sử


Đinh Tấn Lực

“…Họ viết sử bằng cả những trực diện đau đớn thân xác và căng thẳng thần kinh với những tay lưu manh, côn đồ, đầu gấu xã hội đen cho dù có mặc hay không mặc sắc phục, có đeo hay không đeo quân hàm, có cầm hay không cầm dùi cui, roi điện…”

Quả thật đảng ta có rất nhiều cách sáng tạo để đưa người vào lịch sử. Nhiều vô kể. Hồ hởi biết bao! Phấn khích dường nào! Lê Văn Tám chỉ là một ép-si-lôn. Chứ không thì ta đã chẳng từng có thành ngữ biến thành khẩu hiệu "ra ngõ gặp anh hùng". Tiếc thay, những tháng ngày rậm rực đó đã qua mau, qua vội, qua mất biệt thiệt rồi. Nay, vào thời A-còng sang A-péc tới chạm ngưỡng Vê-kép-Tê-O, thực tiễn lại đổi mới hai từ "ra ngõ" thành "ra toà".

Hãy kiểm thử một đoạn trí nhớ:

Từ Ts Nguyễn Thanh Giang đến Ts Nguyễn Xuân Tụ.
Từ Bs Phạm Hồng Sơn đến Lm Nguyễn Văn Lý.
Từ Ms Nguyễn Công Chính đến Dn Phạm Bá Hải.
Từ Nb Nguyễn Vũ Bình đến Ls Lê Quốc Quân.
Từ Ls Nguyễn Văn Đài đến Ls Lê Thị Công Nhân.
Từ Ks Nguyễn Thế Vũ đến Ts Nguyễn Quốc Quân.
Từ Pv Nguyễn Thị Thanh Vân đến Nv Trần Khải Thanh Thủy.
Từ Ms Nguyễn Hồng Quang đến Ls Trần Thị Thùy Trang…

Và rất nhiều người khác nữa, nhớ không xuể, kể không hết.

Hầu hết đều ra toà.

Hầu hết đều bước chân vào lịch sử bằng phong thái đởm lược trong những trường hợp khác nhau. Có người, có thể là nhân vật đầu tiên của cả thế giới, và được cả thế giới biết đến, vì đã bị một bàn tay vũ phu bịt miệng giữa toà và ngay trước ống kính truyền hình. Có người, cũng có thể là lần đầu tiên trong loài người văn minh, vì bài dịch một định nghĩa trên mạng của sứ quán nước ngoài. Có người, lần đầu tiên vượt mặt bộ Công an nước nhà, tán phát cuộn băng ghi âm toàn bộ cuộc thẩm vấn ra tới các đài phát thanh ở nước ngoài. Có người, cần được ghi vào sử sách Ghi-nét Việt Nam, đã bị một nữ sĩ quan công an thẩm vấn lột truồng vê hạ bộ… v.v…

Hầu hết đều bị bạo quyền phủ trùm lên hoạt động xã hội của họ một tội danh hình sự hay kinh tế. Cho dù dàn báo chí chính quy vẫn rầm rộ luân phiên khuếch âm lời lên án chính trị họ là "tên", "bọn", "lũ", "bè lũ" phản động, khủng bố, hay tay sai thế lực thù địch nước ngoài….

Gần nhất là Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, bút danh Hoàng Hải. Bị đảng và nhà nước ta ghim vào sổ đen về "tội" công khai bày tỏ lòng yêu nước, tham gia các cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc tóm thu một phần Vịnh Bắc Bộ cùng các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Bị đảng và nhà nước ta, đặc biệt là bộ Bốn Tờ, chiếu cố về "tội" công khai cầm bút ngoài luồng, nhất quyết không khép mình vào hành lang lề phải mà Bộ trưởng Lê Doãn Hợp và Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn đang canh giữ. Bị đảng và nhà nước bắt giam ngay trước khi ngọn đuốc thế vận Bắc Kinh tạt ngang Thành Phố một cách "an toàn và trọng thị". Nhưng lại bị ra toà xử kín với một tội danh kinh tế.

Điếu Cày cũng là nhân vật đầu tiên trong lịch sử nước ta bị áp án sơ thẩm 2 năm rưỡi về tội "trốn thuế cho thuê nhà gây nguy hiểm cho cộng đồng".

Đội tuyển nhà nước đã giăng dây và bài binh bố trận khắp sân rồi sau đó tự ý đá thủng lưới nhà: Lại thêm một lần nữa, đảng và nhà nước ta sử dụng đòn vọt trong nhà để che giấu mọi khuất tất ngoài ngõ. Lần này còn là để tung khói mù khoả lấp mối đe dọa đốt nhà từ thằng bụng phệ hàng xóm. Biết đâu còn là một món quà khấu tặng đứa hàng xóm hung hăng đó nữa.

Đã bảo là đảng và nhà nước ta có lắm chiêu thức sáng tạo tài tình để đưa người vào lịch sử mà! Chỉ có cái bản chất côn đồ của nó thì vẫn trước sau không đổi.

Sáng sớm 10-9-2008, lực lượng an ninh thành phố đã cho bố trí quanh toà án quận 3 một đội ngũ công an và đầu gấu như thể quân đội đồng minh đổ bộ Normandie ngày D. Một số đồng bào đã được công an huơ dùi cui mời về nhà hoặc "xéo ngay đi!", kể cả thân nhân của nghi can có giấy mời của toà. Một số khác bị chận từ nhà hoặc trên đường từ nhà đến toà án.

Do đó, phụ bản của khẩu hiệu "gặp anh hùng" trong thời đại này còn là "trên đường ra chứng kiến các phiên toà chính trị" nữa.

Phôn nháy liên tục. Những tin nóng truyền tai bảo rằng các bloggers Uyên Vũ, Trăng Đêm, Song Chi, Tạ Phong Tần, Thiên Sầu, Đông A… đều bị công an gây khó dễ trên đường đến dự phiên toà.

Bạn Đông A bị CA canh giữ suốt, ngay tại văn phòng. Đến khi Đông A tìm cách tự giải phóng để đi đến toà án Q3, thì CA đến nhà Đông A bắt ông thân sinh của bạn ấy đi lên toà để buộc Đông A phải quay về nhà.
Trăng Đêm bị giấy mời lên CA Q6, không ghi lý do.

Thiên Sầu thì bị bắt ngay tại cổng toà án Q3 và bị đưa về CA phường 6 quận 3 cho đến 1 giờ trưa…

AnhBaSG thì bị CA chận lại lúc đang trên đuờng đưa con đi học sáng nay, và sau đó bị đưa vào đồn CA Kinh Tế cho đến giờ chấm dứt phiên toà mới được thả ra.

Dù đang ngồi trong nhà giam, dù bị cản ngang chận dọc trên đường tới toà, hay dù đang đứng bào chữa giữa toà, họ đều là những con người nhất quyết không cúi đầu trước dối trá hay cong gối trước bạo quyền. Tất cả đều là những người chân trong chân ngoài bước vào lịch sử, cho dù đảng ta có phải hé cổng hay không.

Họ không đang đọc sử hay chép sử.

Họ đang viết sử, bằng tâm huyết với con em, nhiệt thành với bằng hữu, chân tình với sự thật, và nặng lòng với đất nước.

Họ viết sử bằng niềm tin, bằng tình người, bằng tay không, bằng yêu thương, và bằng chính nghĩa.

Họ viết sử bằng cách rọi đèn vào các ngóc ngách tăm tối của từng chính sách.

Họ viết sử bằng những tờ truyền đơn cổ võ đấu tranh bất bạo động.

Họ viết sử bằng tấm bản đồ mến yêu in trên ngực áo.

Họ viết sử bằng lời khẳng định cương thổ sơn hà trên nón bảo hiểm.

Họ viết sử bằng lời từ chối lệnh trục xuất cho đi tỵ nạn nước ngoài.

Họ viết sử bằng biểu ngữ căng trên nóc nhà thờ: "Tự Do Hay Là Chết".

Họ viết sử bằng cả những trực diện đau đớn thân xác và căng thẳng thần kinh với những tay lưu manh, côn đồ, đầu gấu xã hội đen cho dù có mặc hay không mặc sắc phục, có đeo hay không đeo quân hàm, có cầm hay không cầm dùi cui, roi điện.

Không thể không tính sổ về những điều này trong cái giá phải trả cho Tự Do Dân Chủ của dân tộc và cho sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.
Không thể nào quên được. Cái giá này rất lớn.

11-9-2008
Đinh Tấn Lực

Chung cư Nguyễn Thiện Thuật – Q3 – TP/HCM



LS Lê Thị Công Nhân tuyệt thực trong tù từ ngày 27/12.




*Phản đối bị tịch thu kinh thánh, bị khủng bố tinh thần, bị cho ăn đồ thiu thối.


Hà Nội .- Nữ luật sư Lê Thị công Nhân tuyệt thực 10 ngày trong tù để phản đối đã bị tịch thu kinh thánh, bị khủng bố tinh thần cũng như bị cho ăn đồ ăn thiu khiến nhiều nữ tù nhân bị tiêu chảy.

Trong cuộc nói chuyện với nhật báo Viễn Đông hôm Thứ Hai bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ luật sư Lê Thị Công Nhân cho hay như vậy sau khi bà đi thăm con gái đã bị chuyển đến Trại giam số 5 giam nữ tù ở tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 180km đến 200 km về phía nam, ngày 6/1/2008.

Nữ luật sư LTCN, 28 tuổi, đã bị kết án về tội "tuyên truyền chống nhà nước..." theo điều 88 của Bộ Luật Hình Sự CSVN, bị tòa sơ thẩm kết án tù 4 năm hồi giữa Tháng 5/2007 nhưng giảm bớt 1 năm khi ra tòa phúc thẩm ngày 27/11/07, tức còn 3 năm tù và giữ nguyên 3 năm quản chế.

Cũng trong cùng một vụ xử phúc thẩm này ngày hôm đó, bản án luật sư Nguyễn Văn Đài đựơc giảm án từ 5 năm xuống còn 4 năm tù, giữ nguyên 4 năm quản chế.

"Nhân rất yếu và đi chậm từng bứơc một vì tuyệt thực từ ngày 27/12."

Bà Lệ nói.

Vụ tuyệt thực xảy ra từ khi cô còn bị giam ở Trại Tạm Giam ở Hà Nội và tiếp tục cho đến khi cô bị chuyển đến trại giam nữ tù ở tỉnh Thanh Hóa.

Theo lời bà Lệ thuật lại sau khoảng một giờ đồng hồ đựơc gặp mặt con gái sáng hôm đó, nữ luật sư LTCN tuyệt thực vì ba lý do.

"Thứ nhất, trong trại tù (Hà Nội) có một số người (nữ tù nhân cùng phòng) bị tiêu chảy vì thức ăn thiu. Thứ hai, để phản đối việc họ trấn áp tinh thần bằng cách xúi giục tù nhân cùng phòng mắng chửi Nhân bằng những từ thô bỉ. Thứ ba, tiếp tục tuyệt thực ở trại mới vì Nhân bị tịch thu quyển Kinh Thánh khi đến trại."

Theo lời bà Lệ khi con gái bị chuyển trại lúc 4 giờ sáng ngày 3/1/2008 bà không được thông báo cho biết. Nhưng qua một số nguồn tin, bà nghe nói con gái tuyệt thực và lại có cả cú điện thọai cho biết có người nhìn thấy con gái bà đã chết khi đến trại tù ở tỉnh Thanh Hóa.

"Thông tin Nhân bị chết khi đến trại giam mới là có cơ sở. Vì hôm 3/1 sau khi CA đưa Nhân đi trại giam mới, rất nhiều người gọi điện thoại hỏi mà tôi không biết gì. Nhân tuyệt thực nên rất yếu, thế mà còn phải thức dậy rất sớm để chuẩn bị 4 giờ sáng đi ra xe đến trại mới cách Hà Nội gần 200km. Nhân bất tỉnh trên thùng xe. Đưa Nhân đi có cả bác sĩ hay y tá gì đó, nhưng họ không là phạm nhân nên họ ngồi phía trên. Có lẽ họ không hay Nhân ngất xỉu. Nhân bảo khi Nhân tỉnh dậy thì đã thấy ở phòng y tế của Trại 5 rồi."

Bà Lệ nói tiếp rằng "Có lẽ lúc họ khiêng Nhân vào phòng y tế, có người nhìn thấy Nhân bất động thì nghĩ là Nhân đã chết. Vì thế có lẽ những người đó tin cho ai đó là Nhân đã chết. Nhưng Nhân không chết." Bà nói. "Tôi bị một buổi choáng váng vì tin này".

Bà Lệ cho hay bà khuyên con gái nên ăn trở lại để tranh đấu bằng những hình thức khác và cô đã nghe lời khuyên của mẹ chấm dứt tuyệt thực.

Theo lời bà, luật lệ nhà tù CSVN chỉ cấm tù nhân nhận hay giữ các ấn phẩm, tài liệu văn hóa "có nội dung không lành mạnh". Vậy quyển Kinh Thánh đạo Tin Lành là loại ấn phẩm "có nội dung không lành mạnh" hay sao, bà đặt dấu hỏi. "Như vậy là xúc phạm cả thế giới Công Giáo và Tin Lành".

Bà mang theo hai quyển tự điển Anh-Việt và Việt-Anh và quyển ngữ pháp tiếng Anh để cô học thêm trong giờ rỗi rảnh. Tuy nhiên, viên chức nhà tù số 5 không cho nhận và nói rằng "để xin ý kiến cấp trên".

Ngày 15/11/07, tức trước khi có phiên tòa phúc thẩm gần 2 tuần lễ, 5 thành viên gồm cả Chủ tịch Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) Michael L. Cromartie đã đến thăm hai luật sư Lê Thị Công Nhân và luật sư Nguyễn Văn Đài tại Trại Tạm Giam, Hà Nội. Nơi đây, họ đã trao cho hai người hai quyển Kinh Thánh mà trước đó, họ không được mang theo hoặc nhận từ gia đình gửi đến, kể từ khi bị bắt giữ hồi Tháng Ba 2007. Nhưng khi đến nhà tù mới thì bị tịch thu.

Một điểm khác mà bà Lệ thuật lại cho biết, phân trại này của trại giam nữ tù số 5 tại Thanh Hóa "không có phòng tắm".

"Tất cả ai tắm thì cứ ra kéo nước giếng lên tắm giữa trời." Bà Lệ kể lại. "Trời rét mà tắm giữa trời dễ trúng gió, có thể chết như không. Tôi và Nhân có đề nghị với giám thị trại giam nên có nhà tắm để chị em tắm cho kín đáo và lại bảo vệ sức khỏe nữa".

Tin tức cho hay hiện các luật sư biện hộ cho hai tù nhân lương tâm này đang chuẩn bị thủ tục làm "giám đốc thẩm" tức kiện lên Tòa án Tối cao của hệ thống tư pháp CSVN.

Trong một văn thư đề ngày 7/12/2007 gửi chánh án Tòa án Tối cao CSVN, ba luật sư Lê Công Định, Đặng Trọng Dũng, Bùi Quang Nghiêm nói rằng bản án phúc thẩm lập lại lập luận vi hiến, vi luật của bản án sơ thẩm và còn có những hành động sai trái khác.

Các ông đã dẫn chứng ba sự việc gồm "Không triệu tập đủ nhân chứng", "Không xem xét các tài liệu (chứng cứ) mới", và "Cản trở luật sư tranh luận" để chứng minh. (Đơn khiếu nại của 3 vị luật sư này đã được đăng trên trang của CLBNBTD)

Nghe phỏng vấn tại đây (click here)

Những bài liên quan:


Ba luật sư cùng khiếu nại về phiên tòa phúc thẩm xử LS Nguyễn Văn Đài và LS Lê Thị Công Nhân


Tường thuật nóng từ phiên tòa xét xử 2 luật sư Nguyễn Văn Đài & Lê Thị Công Nhân

Họ là những người Yêu nước và Dũng cảm




Luận cứ bào chữa của LS Lê Công Định

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Tôi, Lê Công Định, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư TPHCM, là luật sư biện hộ cho các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân trong vụ án hình sự “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ngày 27/11/2007. Tôi xin trình bày luận cứ biện hộ của tôi như sau:

1. Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11/5/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên xử hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên cơ sở áp dụng Điểm a và c Khoản 1 của Điều 88 Bộ luật hình sự, theo đó xử phạt:

Luật sư Nguyễn Văn Đài, năm (5) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế bốn (4) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; và

Luật sư Lê Thị Công Nhân, bốn (4) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế ba (3) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên tịch thu một số tài sản cá nhân của các hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

2. Bản án sơ thẩm được tuyên trên cơ sở các chứng cứ như sau: (a) tài liệu thu thập tại Văn phòng luật sư Thiên Ân và nhà riêng của hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, và (b) việc tổ chức những buổi thảo luận tại Văn phòng luật sư Thiên Ân.

Tòa án sơ thẩm đã nhận định nội dung các chứng cứ nêu trên là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi liệt kê dưới đây nhóm nội dung các chứng cứ mà Bản án sơ thẩm đã nêu:

(a) Hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bôi nhọ Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản và nhà nước;

(b) Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

(c) Xuyên tạc tình hình thực tế tại Việt Nam;

(d) Tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền;

(e) Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế Đảng Cộng sản;

(f) Tham gia và ủng hộ tích cực các tổ chức hoạt động bất hợp pháp, bao gồm “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam”, “Khối 8406”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”, “Hội dân oan” và “Công đoàn độc lập”; và

(g) Có ý thức muốn thành lập một số tổ chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhận định về chứng cứ và nhân chứng

1. Các chứng cứ nêu tại Bản án sơ thẩm không xác định được hành vi phạm tội dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm như quy định tại Điều 88 của Bộ luật hình sự.

2. Vì chứng cứ không rõ ràng nên lập luận của Tòa sơ thẩm và vị đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay chủ yếu dựa trên sự suy đoán và áp đặt, nhưng lại là suy đoán theo hướng có tội.

Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới, theo đó nếu phải sử dụng chứng cứ gián tiếp nhằm suy đoán hành vi thì chỉ có thể là suy đoán theo hướng vô tội.

3. Ngày 19/11/2007 các luật sư biện hộ đã gửi đơn thỉnh cầu triệu tập 17 nhân chứng, nhưng vì lý do này lý do kia, chỉ 5 nhân chứng dự phiên tòa phúc thẩm. Về phần nhân chứng Phạm Văn Trội bị công an cản trở đến tòa làm chứng mà tôi đã lưu ý Hội đồng xét xử khi bắt đầu phiên tòa sáng nay và yêu cầu phải có biện pháp giải quyết vấn đề này, nhưng tôi chưa thấy Hội đồng xét xử có ý kiến gì cả. Đó là một sự việc nghiêm trọng, có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Đối với những nhân chứng không có mặt tại đây, chúng tôi không thể trực tiếp lắng nghe lời khai của họ để đánh giá các chứng cứ khác. Do vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử không được sử dụng các tài liệu mà họ là tác giả hoặc các công việc mà họ làm như những chứng cứ để buộc tội hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

Lưu ý, 17 nhân chứng mà các luật sư thỉnh cầu triệu tập bao gồm:

(1) Phạm Sỹ Nguyên (vắng mặt)
(2) Nguyễn Xuân Đệ (vắng mặt)
(3) Trần Thanh (có mặt)
(4) Nguyễn Thị Hương Lan (vắng mặt)
(5) Trần Văn Hòa (vắng mặt)
(6) Đồng Thị Giang (có mặt)
(7) Khổng Văn Thành (có mặt)
(8) Nguyễn Bá Trực (có mặt)
(9) Giáp Văn Hiếu (có mặt)
(10) Nguyễn Thanh Giang (vắng mặt)
(11) Dương Thu Hương (vắng mặt)
(12) Vũ Quốc Dụng (vắng mặt)
(13) Nguyễn Đình Thắng (vắng mặt)
(14) Trần Ngọc Thành (vắng mặt)
(15) Nguyễn Văn Lý (vắng mặt)
(16) Đỗ Nam Hải (vắng mặt)
(17) Hoàng Minh Chính (vắng mặt)

4. Vì những lý do nêu trên, tôi khẳng định rằng các chứng cứ trong Vụ án này không đủ để kết luận các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88 của Bộ luật hình sự.

Phân tích

A. Yếu tố cấu thành tội phạm

1. Theo Điều 88, “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là mục tiêu mà hành vi “tuyên truyền” nhắm đến. Tuy nhiên, thế nào là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Điều 88 và cả Bộ luật hình sự đều không quy định và xác định. Do đây là một khái niệm không được luật pháp minh định nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa sơ thẩm đã tùy tiện suy đoán hành vi của các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

2. Chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam, các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, thực trạng xã hội, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam không thể được xem là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì những lý do sau đây:

(a) Không thể suy diễn theo hướng đồng hóa Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nếu không sẽ trái với Hiến pháp hiện hành;

(b) Bàn đến thực trạng xã hội không thể đương nhiên được suy diễn thành “chống”; và

(c) Bàn đến dân chủ và nhân quyền không thể được suy diễn thành “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trừ phi nhà nước đó chống lại dân chủ và nhân quyền.

3. Chưa có sự thẩm định độc lập của bất kỳ cơ quan hoặc tổ chức độc lập nào về nội dung của các tài liệu tịch thu từ nhà và nơi làm việc của các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân để kết luận những tài liệu đó có nội dung “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay không.

Những cơ quan tham gia tố tụng đều không thể được xem là độc lập để thẩm định và đưa ra kết luận khách quan, hơn nữa cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không đương nhiên có quyền độc lập thẩm định và kết luận vì luật không quy định trao quyền như vậy.

Thiếu sự thẩm định khách quan cho thấy nhận định và kết luận của cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong Vụ án này hoàn toàn có tính chất chủ quan và thiên lệch. Dựa vào kết luận của những cơ quan này để truy tố tội phạm và bị cáo, tôi hiểu vì sao Bản án sơ thẩm thiếu công bằng và sai lầm.

Nếu Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục sử dụng các tài liệu đã nêu như là chứng cứ để buộc tội và xét xử, tôi đề nghị một sự tranh luận chi tiết giữa các luật sư chúng tôi và vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đối với từng nội dung của các tài liệu đó tại phiên tòa phúc thẩm này để xác định xem thế nào là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

B. Thế nào là "chống nhà nước CHXHCN Việt Nam"?

1. Về phương diện pháp lý, chỉ có thể xem là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nếu hành vi bị truy tố chống lại Hiến pháp hiện hành.

2. Liệu hành vi của hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân có thể xem là chống lại Hiến pháp hiện hành hay không? Tôi xin khẳng định hoàn toàn không, bởi lẽ:

(a) Đề nghị đa đảng không thể bị xem là trái với Hiến pháp.

Thật vậy, Điều 4 của Hiến pháp tuy khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, song rõ ràng không nghiêm cấm việc lập đảng hoặc lập hội ngoài Đảng Cộng sản.

Để Hội đồng xét xử tham khảo, tôi xin cung cấp thông tin được báo Tuổi Trẻ số ra ngày 17/11/2007 đăng tải về việc Văn phòng thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc vào ngày 15/11/2007 đã phát hành sách trắng mang tên “Chế độ chính đảng của Trung Quốc”, theo đó chế độ chính đảng trong tương lai gần tại Trung Quốc sẽ là chế độ hợp tác đa đảng và hiệp thương chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Như vậy đề nghị một thể chế đa đảng không đồng nghĩa với việc chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa. Trường hợp đã nêu về Trung Quốc là điều mà Hội đồng xét xử cần suy nghĩ thêm và cân nhắc thấu đáo.

(b) Ủng hộ và tham gia các tổ chức chính trị khác cũng không thể bị xem là trái với Hiến pháp.

Thật vậy, Việt Nam chưa có Tòa án Hiến pháp nên không thể tùy tiện tuyên bố hoạt động của bất kỳ tổ chức nào là bất hợp pháp và trái Hiến pháp.

Cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ phán quyết nào của tòa án các cấp xem xét một cách riêng biệt tính chất hợp hiến và hợp pháp của những tổ chức như “Khối 8406”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”, “Hội dân oan” và “Công đoàn độc lập”. Do đó, việc vội vã kết luận những tổ chức này là bất hợp pháp để từ đó suy đoán hành vi ủng hộ những tổ chức đó là chống nhà nước rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý.

(c) Kêu gọi tôn trọng và bảo vệ nhân quyền và dân chủ càng không thể bị xem là trái với Hiến pháp.

Nội dung các tài liệu và thảo luận của các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân nhằm mục đích kêu gọi thực hiện các quyền công dân và nhân quyền được quy định tại Điều 69, 70 và 71 của Hiến pháp hiện hành, theo đó công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật; có quyền tự do tín ngưỡng; và có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.

Chỉ trích và lên án những hành động thiếu tôn trọng hoặc vi phạm các quyền công dân và nhân quyền được quy định tại Điều 69, 70 và 71 của Hiến pháp không thể bị xem là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; trái lại chỉ những hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền mới là chống Hiến pháp và do đó chống nhà nước.

C. Quyền tự do biểu đạt ý kiến và quan điểm cá nhân theo luật quốc tế

Nhà nước Việt Nam có bổn phận tuân thủ các điều ước quốc tế đã gia nhập hoặc công nhận, đặc biệt là các công ước của Liên hiệp quốc mà Việt Nam là thành viên. Luật pháp quốc gia cần phải được ban hành, sửa đổi, giải thích và thi hành theo quy định của các điều ước quốc tế đó.

Liên quan đến Vụ án này, tôi xin dẫn chiếu các quy định sau đây của luật pháp quốc tế mà Nhà nước Việt Nam phải tuân thủ, và tôi cũng đề nghị Hội đồng xét xử tôn trọng và ghi nhận bổn phận đó của Nhà nước Việt Nam trong bản án sẽ được tuyên:

1. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Political and Civil Rights) do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua vào ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 và Việt Nam tham gia vào ngày 24/9/1982, đã quy định quyền tự do biểu đạt ý kiến và quan điểm của cá nhân tại Điều 19 như sau:

“1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.

2. Mọi người đều có quyền tự do biểu đạt. Quyền này phải bao gồm cả sự tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến thuộc tất cả các loại không phân biệt ranh giới, dưới hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào khác tùy theo sự lựa chọn của họ.”

2. Cần lưu ý rằng trước khi bị bắt giam các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân vẫn đang hành nghề luật sư. Với tư cách là luật sư, họ có vai trò và quyền hạn được quy định trong bản Các Nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư (Basic Principles on the Role of Lawyers) do Hội nghị Liên hiệp quốc lần thứ tám về phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội, tổ chức tại Havana từ ngày 27/8/1990 đến ngày 7/9/1990. Mục 23 của Các Nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư quy định như sau:

“Cũng như những công dân khác, luật sư được hưởng quyền tự do biểu đạt, tín ngưỡng, kết giao và hội họp. Đặc biệt, họ phải có quyền tham gia vào các cuộc thảo luận của công chúng có liên quan đến luật pháp, quản lý tư pháp, việc đẩy mạnh và bảo vệ quyền con người.” (xem bản dịch trong sách “Quyền con người trong quản lý tư pháp” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2000, tại trang 110)

3. Như vậy, hành vi mà các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân thực hiện thuộc phạm vi các quyền công dân, quyền chính trị và quyền về nghề nghiệp mà mọi nhà nước trên thế giới phải tôn trọng và bảo vệ. Sẽ được xem là vi phạm luật pháp quốc tế nếu nhà nước nào vi phạm hoặc cản trở việc thực thi các quyền đó mà thôi.

D. Lớp học về nhân quyền

Trong kế hoạch phổ biến sự hiểu biết chung và cơ bản về nhân quyền trên toàn thế giới, Cao ủy Liên hiệp quốc về nhân quyền đã khuyến khích các quốc gia, tổ chức phi chính phủ và nhóm xã hội tổ chức những lớp học về nhân quyền. Đây là một chương trình toàn cầu mang tên “Chương trình thế giới về giáo dục nhân quyền” (World Programme for Human Rights Education) được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua trong Nghị quyết số 59/113A ngày 10/12/2004. Với tư cách là thành viên của Liên hiệp quốc, Việt Nam lẽ ra phải thực hiện và bảo đảm việc thực hiện chương trình này.

Trên thực tế, các buổi thảo luận tại Văn phòng luật sư Thiên Ân được tổ chức trong khuôn khổ chương trình nói trên. Nội dung và tài liệu của những buổi thảo luận đó hầu hết chỉ liên quan đến vấn đề nhân quyền nói chung và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ nhân quyền. Tôi xin nêu dưới đây nội dung của tập tài liệu mà cơ quan điều tra tịch thu (xem các Bút lục từ số 610 đến số 635):

1. Mục đích của chương trình tập huấn: đưa ra những hiểu biết cơ bản về nhân quyền;

2. “Nhân phẩm - nền tảng của nhân quyền”;

3. Xây dựng một xã hội dân chủ làm nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực và nhân tài cho Việt Nam;

4. Đánh giá việc thực hiện dân chủ ở nước ta sau 20 năm đổi mới; và

5. Chương trình huấn luyện luật sư nhân quyền.

Cần lưu ý rằng tài liệu “Nhân phẩm - nền tảng của nhân quyền” của tác giả Đỗ Mạnh Tri đề ngày 20/4/2006 mà hồ sơ Vụ án đã nhắc đến nhiều lần (xem nội dung tại các Bút lục từ số 67/1 đến số 67/20) chỉ nêu khái niệm về quyền, cơ sở triết học của quyền, nhân quyền và nhân phẩm qua các thời đại.

Giảng dạy và thảo luận về nhân quyền và dân chủ không thể xem là “chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam nếu không tổ chức được những lớp học về đề tài này thì cũng không thể ngăn cản hoặc cấm đoán công dân mình thực hiện chương trình phổ quát mà Liên hiệp quốc khuyến khích trên toàn thế giới, và càng không có lý do hoặc cơ sở pháp lý nào để bỏ tù những người đảm nhiệm công việc đó hoặc gán cho họ tội danh tuyên truyền chống nhà nước.

Có thể các Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã công khai bày tỏ quan điểm và ý kiến riêng trái ngược với quan điểm chính thống mà Nhà nước Việt Nam đang tuyên truyền và thích nghe. Có thể suy nghĩ và nhận thức của họ tuy không xa lạ với hầu hết các dân tộc khác trên thế giới, nhưng lại đi trước so với tầm suy nghĩ chung của xã hội Việt Nam hiện tại và có vẻ trái với quan điểm chính thống, song không vì thế mà chúng ta có thể nghi ngờ ý định và động cơ của họ.

Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng tuyên bố rằng “chính kiến khác nhau, ý kiến khác nhau là bình thường, và điều quan trọng là cần phải có đối thoại, nói chuyện với nhau một cách sòng phẳng” (xem bài trả lời phỏng vấn của Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt dành cho Đài BBC ngày 17/4/2007). Ông cũng khẳng định “Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả. […] Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc Việt Nam không của riêng một đảng, một phe phái, tôn giáo nào”.

Hai vị Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân là những nhà yêu nước và chỉ có yêu nước họ mới dám dũng cảm nói lên một cách công khai và hòa bình quan điểm riêng của mình và tìm kiếm sự ủng hộ quan điểm ấy từ những người Việt Nam yêu nước khác, ngoài Đảng Cộng sản. Hành động của họ cần được khuyến khích vì đã dám đứng lên bảo vệ niềm tin của mình.

Chính kiến có thể khác song dứt khoát không thể bị quy chụp khi xét đến ý định và động cơ. Vấn đề là liệu bắt giam họ có thể làm cho thực trạng xã hội mà họ lên tiếng tốt hơn không và liệu có dập tắt được những tiếng nói yêu nước khác hay không? Thực tế đã chứng minh rằng không.

Nếu tại một nơi nào và ở một thời điểm nào mà luật pháp xem lòng yêu nước là tội phạm, thì thay vì trừng phạt những nhà yêu nước, hãy thay đổi luật pháp ấy.

Kết luận và đề nghị

Thưa Hội đồng xét xử, vì những lý lẽ nêu trên, tôi với tư cách là luật sư biện hộ cho hai đồng nghiệp của tôi là Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, kết luận rằng không một điều luật hiện hành nào của Việt Nam tạo ra hoặc hội đủ cơ sở pháp lý để kết tội và kết án họ. Họ vô tội một cách đương nhiên.

Do vậy, tôi đề nghị Hội đồng xét xử hãy tuyên trả tự do cho hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, đồng thời trả lại tài sản của họ. Việc trả tự do cho hai vị luật sư này sẽ tôn vinh nghĩa lớn và trí tuệ nhân bản của dân tộc Việt Nam, mà Nguyễn Trãi đã từng nói trong “Bình Ngô Đại Cáo”:

“Mang đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”

Tôi xin chân thành cám ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe ý kiến của tôi