Hiển thị các bài đăng có nhãn trung_quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trung_quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Giao thiệp với Trung Quốc?

Lịch sử chắc chắn sẽ lưu lại phương cách đấu tranh bảo vệ chủ quyền của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn khi ông Lê Dũng mô tả sự kiện ông Sơn gặp đại sứ Trung Quốc sau những hành động gây hấn của họ ở biển Đông là “giao thiệp”. Tôi không rõ ông Sơn gặp Tôn Quốc Tường trong hoàn cảnh nào. Nhưng, trong những tình huống tương tự, bộ Ngoại giao chỉ có thể triệu Tường lên hoặc cho đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh gặp bộ Ngoại giao họ để trao công hàm phản đối.

Khi một quốc gia ngang ngược, đại diện chính quyền không thể nào “giao thiệp” với sứ họ trong những tư thế có thể phương hại đến thể diện quốc gia. Tuy Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc hàng chục lần, nhưng đây không phải là một cuộc tỷ thí của hai kẻ lục lâm. Đường đường là một quốc gia, Việt Nam lại đang là thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.

Khi đã “có đầy đủ bằng chứng” Trung Quốc cấm đánh cá trong “những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông” thì từ ngữ dù là ngoại giao cũng không thể là “đề nghị”. Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn có trách nhiệm “yêu cầu” Trung Quốc chấm dứt các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tất nhiên, khi Trung Quốc, ngày 16-05-2009, cho tàu Ngư Chính tới Hoàng Sa và cuối tháng 5-2009 điều tiếp 08 tàu tuần tra tới biển Đông, là đã có sự rắp tâm. Cho dù ông Lê Dũng hay Hồ Xuân Sơn sử dụng ngôn từ đanh thép tới đâu thì các ngư phủ Việt Nam vẫn khó lòng tới những khu vực nói trên đánh cá. Nhưng, một lời tuyên bố khảng khái từ Chính phủ, cũng giống như một ngọn đèn xa nơi sóng dữ, có thể giúp cho những ngư dân gặp nạn ngoài biển lớn không còn cảm giác bị bỏ rơi.

Lẽ ra, ngay từ khi nhận được tin, lúc 3h sáng ngày 19-5, một tàu câu mực của ngư dân, bị một “tàu lạ” cố ý đâm, hất xuống biển 26 thuyền viên, Chính phủ phải lập tức điều tra và yêu cầu các quốc gia có tàu bè đi lại trong khu vực cùng tham gia điều tra; hành động ấy phải được coi là hải tặc. Lẽ ra, báo chí nước ngoài phải được mời đến vùng biển ấy và gặp các ngư dân bị nạn ngay. Rồi, khi Trung Quốc thừa nhận hành vi nói trên là do chính họ gây ra thì đại diện Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, phải lập tức đặt công hàm lên bàn Tổng Thư ký Ban Ki Moon.

Thế giới cần được biết, ở thiên niên kỷ thứ III vẫn có một quốc gia đối xử với con người mọi rợ: cho tàu lớn đâm vào tàu đánh cá của thường dân rồi để họ phải bám vào can nhựa, trôi dạt nhiều giờ trong đêm, sẽ chết nếu không được các ngư dân kịp cứu.

Việt Nam là một quốc gia nhỏ, nghèo, dân chúng đã mỏi mệt vì phải tham gia quá nhiều cuộc chiến. Cho dù vẫn có không ít người sẵn sàng ra trận để bảo vệ mỗi tấc đất cha ông, bổn phận một chính phủ thương dân là tránh để cho nhân dân đổ máu. Khi Trung Quốc đưa tàu ra biển, Việt Nam không nhất thiết cũng phải kéo tàu ra. Nhưng, ở nơi ngư dân của mình thường đánh cá và bị hành hung mà bơi nhiều giờ không thấy tàu cứu hộ thì Chính phủ cũng nên nhanh tay khắc phục.

Sự hiện diện trên biển Đông của Việt Nam nên hoàn toàn quang minh chính trực; để bảo vệ chứ không phải là để tuyên chiến. Không mong manh để Trung Quốc dễ sát hại như năm 1988 ở đảo Gạc Ma nhưng cũng không “chạy đua”. Không đối đầu trên biển Đông nhưng cũng không cúi đầu trên bàn đàm phán.

Với một kẻ sẵn sàng thí cả biển dân như Trung Hoa, chiến tranh cũng đắt giá mà đấu tranh cũng cần trả giá. Càng nước nhỏ lại càng cần nhiều bạn bè ủng hộ. Một quốc gia khi tuyên bố về chủ quyền không thể khiến cho thế giới tin nếu chính họ cũng thiếu tự tin. Phẩm giá một dân tộc không thể được phát ra bằng những ngôn từ lí nhí. Sẽ không ai nghĩ một quốc gia là hiếu chiến khi kiên trì đấu tranh pháp lý và đanh thép phản đối một quốc gia to hơn trước những hành động xâm phạm chủ quyền. Khảng khái trên mặt trận ngoại giao thường gây thiện cảm nhiều hơn là mua gươm, sắm súng.

Nguồn: Blog Osin

"Giao thiệp"

Theo từ điển mở Wiktionary:



giao thiệp

  1. Tiếp xúc, có quan hệ xã hội với người nào đó, thường là trong công việc làm ăn.
    Giao thiệp với khách hàng.
    Người giao thiệp rộng.
    Biết cách giao thiệp.

Ví dụ khác: "Ngày 4.6 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường..."



Ông Lê Dũng là người phát ngôn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện cho tiếng nói của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, ắt không thể dùng từ bừa bãi. Chữ "giao thiệp" ông dùng hẳn phải có ẩn ý của nó, chứ không phải ngẫu nhiên mà dùng. Có lẽ nó có liên quan tới cụm từ "thường là trong công việc làm ăn" như định nghĩa Wiktionary không?



Ông Hồ Xuân Sơn "giao thiệp" với ông Tôn Quốc Tường có thể vì ông Sơn (hay cấp trên ông Sơn) có "công việc làm ăn" với ông Tường (hay cấp trên ông Tường).



Còn "công việc làm ăn" là gì, như thế nào thì cứ nhìn hai động thái mới nhất của chính quyền hai nước: Ở Việt Nam, người ta giao Tây Nguyên cho Trung Quốc khai thác bauxite để phục vụ cho công nghiệp Trung Quốc, bất chấp lợi ích kinh tế đáng ngờ, và những rủi ro dễ nhận thấy về môi trường và an ninh. Trong khi đó, ở Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc ngang nhiên cấm Việt Nam đánh bắt cá ở những vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền và từ trước tới nay vẫn là vùng tranh chấp mà cả hai bên đều có thể đánh bắt cá. Và trên biển Đông, "tàu lạ" đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam và bỏ mặc 26 ngư dân bơi trên biển trên những chiếc can nhựa.



Đó là "công việc làm ăn" của hai quốc gia. Còn "công việc làm ăn" của một số người nào đó ở hai nước thì tôi xin không có ý kiến. Có thể nó lại đang hết sức phát đạt chăng?



Và cuối cùng, chúng ta hồi hộp chờ đợi ông Tôn Quốc Tường sẽ thực hiện lời hứa của ông: "Đại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía Việt Nam". Giả sử ông Tường quên mất thì sao nhỉ? Hy vọng ông Tường không đãng trí.

Nguồn: Blog Everywhere Land

"Giao thiệp"

Theo từ điển mở Wiktionary:



giao thiệp

  1. Tiếp xúc, có quan hệ xã hội với người nào đó, thường là trong công việc làm ăn.
    Giao thiệp với khách hàng.
    Người giao thiệp rộng.
    Biết cách giao thiệp.

Ví dụ khác: "Ngày 4.6 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường..."



Ông Lê Dũng là người phát ngôn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện cho tiếng nói của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, ắt không thể dùng từ bừa bãi. Chữ "giao thiệp" ông dùng hẳn phải có ẩn ý của nó, chứ không phải ngẫu nhiên mà dùng. Có lẽ nó có liên quan tới cụm từ "thường là trong công việc làm ăn" như định nghĩa Wiktionary không?



Ông Hồ Xuân Sơn "giao thiệp" với ông Tôn Quốc Tường có thể vì ông Sơn (hay cấp trên ông Sơn) có "công việc làm ăn" với ông Tường (hay cấp trên ông Tường).



Còn "công việc làm ăn" là gì, như thế nào thì cứ nhìn hai động thái mới nhất của chính quyền hai nước: Ở Việt Nam, người ta giao Tây Nguyên cho Trung Quốc khai thác bauxite để phục vụ cho công nghiệp Trung Quốc, bất chấp lợi ích kinh tế đáng ngờ, và những rủi ro dễ nhận thấy về môi trường và an ninh. Trong khi đó, ở Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc ngang nhiên cấm Việt Nam đánh bắt cá ở những vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền và từ trước tới nay vẫn là vùng tranh chấp mà cả hai bên đều có thể đánh bắt cá. Và trên biển Đông, "tàu lạ" đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam và bỏ mặc 26 ngư dân bơi trên biển trên những chiếc can nhựa.



Đó là "công việc làm ăn" của hai quốc gia. Còn "công việc làm ăn" của một số người nào đó ở hai nước thì tôi xin không có ý kiến. Có thể nó lại đang hết sức phát đạt chăng?



Và cuối cùng, chúng ta hồi hộp chờ đợi ông Tôn Quốc Tường sẽ thực hiện lời hứa của ông: "Đại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía Việt Nam". Giả sử ông Tường quên mất thì sao nhỉ? Hy vọng ông Tường không đãng trí.

Nguồn: Blog Everywhere Land

"Giao thiệp"

Theo từ điển mở Wiktionary:



giao thiệp

  1. Tiếp xúc, có quan hệ xã hội với người nào đó, thường là trong công việc làm ăn.
    Giao thiệp với khách hàng.
    Người giao thiệp rộng.
    Biết cách giao thiệp.

Ví dụ khác: "Ngày 4.6 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường..."



Ông Lê Dũng là người phát ngôn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện cho tiếng nói của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, ắt không thể dùng từ bừa bãi. Chữ "giao thiệp" ông dùng hẳn phải có ẩn ý của nó, chứ không phải ngẫu nhiên mà dùng. Có lẽ nó có liên quan tới cụm từ "thường là trong công việc làm ăn" như định nghĩa Wiktionary không?



Ông Hồ Xuân Sơn "giao thiệp" với ông Tôn Quốc Tường có thể vì ông Sơn (hay cấp trên ông Sơn) có "công việc làm ăn" với ông Tường (hay cấp trên ông Tường).



Còn "công việc làm ăn" là gì, như thế nào thì cứ nhìn hai động thái mới nhất của chính quyền hai nước: Ở Việt Nam, người ta giao Tây Nguyên cho Trung Quốc khai thác bauxite để phục vụ cho công nghiệp Trung Quốc, bất chấp lợi ích kinh tế đáng ngờ, và những rủi ro dễ nhận thấy về môi trường và an ninh. Trong khi đó, ở Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc ngang nhiên cấm Việt Nam đánh bắt cá ở những vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền và từ trước tới nay vẫn là vùng tranh chấp mà cả hai bên đều có thể đánh bắt cá. Và trên biển Đông, "tàu lạ" đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam và bỏ mặc 26 ngư dân bơi trên biển trên những chiếc can nhựa.



Đó là "công việc làm ăn" của hai quốc gia. Còn "công việc làm ăn" của một số người nào đó ở hai nước thì tôi xin không có ý kiến. Có thể nó lại đang hết sức phát đạt chăng?



Và cuối cùng, chúng ta hồi hộp chờ đợi ông Tôn Quốc Tường sẽ thực hiện lời hứa của ông: "Đại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía Việt Nam". Giả sử ông Tường quên mất thì sao nhỉ? Hy vọng ông Tường không đãng trí.

Nguồn: Blog Everywhere Land

Trung Quốc: lấn biển, lấy tài nguyên, dành thị trường lao động

Giới quan sát cho rằng Việt Nam đã và đang trở thành nơi lý tưởng để Trung Quốc giảm căng tình trạng thất nghiệp và giải cơn khát tài nguyên của nền kinh tế đang vươn lên nhóm hàng đầu thế giới hiện nay.

Cái nhìn thiển cận của chính quyền Việt Nam

<!-- /* Font Definitions */ @font-face {font-family:"Cambria Math"; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman","serif"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-theme-font:minor-latin; mso-hansi-font-family:Calibri;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; mso-margin-top-alt:auto; mso-margin-bottom-alt:auto; text-align:justify; line-height:120%;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.0in 1.0in 1.0in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} -->

Điều đáng để ý, là trong khi Trung Quốc thực hiện điều này, với sự cho phép của chính quyền Việt Nam, thì một số quốc gia khác ở Châu Phi xa xôi lại bắt đầu rút ra bài học khi làm ăn với người Trung Quốc. Biên tập viên Thiện Giao tìm hiểu thêm về vấn đề này.

Bản tin ngày 26 tháng Ba trên tờ New York Times, với tựa đề “Niềm Hy Vọng Tan Vỡ Khi Đầu Tư Trung Quốc Tại Châu Phi Sụt Giảm,” viết rằng “khi giá hàng hoá toàn cầu sụt giảm, một vài bạn hàng Châu Phi của Trung Quốc dấn sâu vào bất ổn, Trung Quốc bắt đầu rút lui khỏi một vài dự án rủi ro và tham vọng nhất. Người Trung Quốc bây giờ bắt đầu đi tìm một sự bảo chứng mà các công ty Phương Tây đã mưu tìm từ lâu: sự ổn định về chính trị và kinh tế.”

Bản tin viết về trường hợp Guinea rằng, người dân xứ này cho đến nay vẫn chưa nhận được những gì họ thật sự chờ đợi từ người Trung Quốc. Đó là một hợp đồng nhiều tỷ Mỹ kim Trung Quốc giúp xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở, đổi lại Bắc Kinh được khai thác những mỏ sắt và bô xít khổng lồ của xứ xở này.

Đến nay, người Trung Quốc vẫn còn chần chờ, không đổ tiền vào Guinea. Lý do, theo lời Đại Sứ Trung Quốc tại đây nói với tờ New York Times, là vì “chính trị bất ổn” và “thị trường thế giới không thuận lợi.”

Trong khi chính trị và thị trường không thuận lợi để Trung Quốc khai thác khoáng sản tại Guinea, trong đó có bô xít, thì tại khu vực Tây Nguyên của Việt Nam, người ta đã bắt đầu thấy sự xuất hiện của người Trung Quốc.

Người Trung Quốc đến đây khai thác bô xít trong một dự án bị chống đối dữ dội bởi nhiều giới khoa học, chính trị, văn hoá trong nước. Nhưng người Trung Quốc vẫn cứ tiếp tục khai thác, và người đứng đầu chính phủ Việt Nam khẳng định “khai thác bô xít là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước.”

TQ vào Tây Nguyên là nguy cơ lớn cho an ninh quốc phòng

Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng xác định, dự án bô xít tại Tây Nguyên đang “gây rất nhiều dư luận trong xã hội.”

“Dự án bauxite Tây Nguyên đang gây rất nhiều dư luận trong xã hội. Nói chung là lo lắng nhiều mặt, về kinh tế sẽ thua lỗ, về môi trường thì tác hại không thể khắc phục. Còn nhiều mặt khác, như xã hội, an ninh quốc phòng, vân vân…”

Tin tức gần nhất cho biết, tập đoàn nhôm Chalco của Trung Quốc, một trong những nhà đầu tư khai thác bô xít tại Tây Nguyên đang bị lỗ nặng. Cụ thể, tập đoàn này thông báo lãi ròng năm 2008 giảm gần 100% so với năm 2007 và sẽ còn tiếp tục thua lỗ trong quý 1 năm nay.

Bản tin của tờ Wall Street Journal ngày 29 tháng Ba viết rằng, bản báo cáo của tập đoàn Chalco phân tích lý do lỗ lã là vì “nạn động đất và bão tuyết tại Trung Quốc trong năm qua,” và “khủng hoảng tài chánh thế giới, sự tăng giá của vật liệu thô cùng với sự giảm giá thành phẩm đã tạo ra những khó khăn chưa từng có tiền lệ cho thương vụ và hàng hoá của Tập Đoàn.”

Chalco ký hợp đồng với tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam, TKV, hồi năm 2006 để khai thác bô xít tại Đắc Nông trong một dự án bị chính một số nhà khoa học của TKV phản đối.

Gần đây, người ta thấy lan truyền trên Internet một bức thư được xem là của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công ty Năng Lượng Sông Hồng trực thuộc TKV, phản đối các dự án bô xít của TKV với Trung Quốc.

Nguồn tin của chúng tôi tại Việt Nam xác định, bức thư ấy được tiến sĩ Sơn viết gởi riêng cho lãnh đạo Đảng Cộng Sản, trong đó có ông Trương Tấn Sang, Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Thường Trực Ban Bí Thư.

Thư có đoạn, rằng “lựa chọn nhà thầu Trung Quốc là một sai lầm cố ý của TKV” và rằng tác giả “hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc tọa đàm cho rằng việc lựa chọn nhà thầu Trung Quốc vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng.”

Áp dụng mô hình đầu tư kiểu Trung Quốc

Trở lại bài viết của tờ New York Times. Bài báo viết, rằng Trung Quốc đang tạo ra một mô hình đầu tư mới tại Châu Phi. Đó là, quan tâm đến quyền lợi của 2 phía nhưng không đưa ra những yêu cầu mà các công ty và giới tài trợ Tây Phương thường đòi hỏi, chẳng hạn tiêu chuẩn môi trường, điều kiện lao động, và sự tôn trọng nhân quyền, dân chủ.

Dự án khai thác bô xít tại Đắc Nông cũng làm nảy sinh nhiều câu hỏi, trong đó có câu hỏi về môi trường.

Chẳng hạn, Tiến Sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, là người có những ý kiến phản biện mạnh mẽ, nói rằng bùn đỏ thải ra trong quá trình khai thác bauxite được ví như “bom bẩn” đe doạ môi trường và mạng sống con người. “Bùn đỏ chứa 70% nước và 30% chất thải quặng thì rất nguy hại về môi trường, vì 70% còn lại chất NAOH, tức là xút.”

Khai thác khoáng sản chỉ là một vế của câu chuyện người Trung Quốc ở Việt Nam. Gần đây, báo chí Việt Nam lại báo động một hiện tượng khác, là “đã có hàng vạn công nhân Trung Quốc vào Việt Nam.”

Bản tin của báo Tuổi Trẻ ngày 28 tháng Ba dẫn lời Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, rằng “các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được…”

Không chỉ len lỏi mang người, Trung Quốc còn áp dụng bất cứ biện pháp khả dĩ nào để mang cả thiết bị, nguyên vật liệu vào Việt Nam. Tuổi Trẻ viết rằng, “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào Việt Nam. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang …đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng Việt Nam mà mua hàng Trung Quốc.”

Những gì đang diễn ra tại Việt Nam khiến giới quan sát tin rằng, người Trung Quốc vào Việt Nam để lấy được tài nguyên rẻ, đồng thời giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp của chính Trung Quốc với cách thức “đầu tư đến đâu, mang người theo đến đó.”

Nguồn: Thiện Giao - RFA Vietnamese

Trung Quốc có thể sụp đổ?





Trần Khải

Trung Quốc có thể sụp đổ hay không? Nếu có cơ sụp đổ như thế, phải là do một áp lực lớn, gay gắt, dữ dội và mãnh liệt nhiều lần hơn phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989.

Hẳn nhiên, không ai nghĩ rằng Đài Loan sẽ đưa quân vào chiếm lục địa. Cũng không thể có chuyện nổi dậy ở Tây Tạng, Tân Cương. Cũng không có bàn tay phù phép CIA nào có thể làm nhà nước Bắc Kinh sụp đổ. Nhiều phần có thể suy đoán, rằng sụp đổ hay biến đổi bản chất phải là tự trong lòng chế độ. Có thể là sẽ có một Gorbachev, hay một Yeltsin... Cũng có thể là dân đói và nổi loạn... Cũng có thể tự Đảng CSTQ tách làm đôi vì cơ duyên nào đó, và rồi không thể hàn gắn...

Nhưng đối với nhiều nhà nghiên cứu tại các đại học Hoa Kỳ, nếu TQ sụp đổ nhiều phần sẽ là do tham nhũng quá độ.

Nhà khoa học chính trị Minxin Pei (*) đã viết một bản nghiên cứu do viện Carnegie Endowment of International Peace, bản doanh ở Washington, phổ biến tháng trước. Họ Pei là nhà khoa học chính trị tốt nghiệp ở đại học Shanghai International Studies University tại Thượng Hải, rồi có bằng Tiến Sĩ ở Đại Học Harvard và có các tác phẩm in tại Mỹ.

Bản khảo sát khẳng định rằng tham nhũng tại Trung Quốc “đã có ảnh hưởng tràn qua biên giới” và làm thiệt hại các nhà đầu tư Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác.

Bản văn viết, “Hành vi bất hợp pháp của các cán bộ địa phương có thể làm các công ty Tây Phương thiệt hại lớn về môi trường, nhân quyền và tài chánh.”

Không phải Pei là người duy nhất đưa ra tiên đoán đó. George Zhibin Gu, một chuyên gia ngân hàng đầu tư tốt nghiệp ở đại học Nanjing University và đậu bằng Tiến Sĩ ở University of Michigan, đã nhận xét rằng tham nhũng có thể phá hủy kinh tế TQ.

Không phải chỉ các chuyên gia tại Mỹ mới nói như thế. Bản tin Reuters hôm 06/01/2009 nhan đề “China faces wave of unrest in 2009” (TQ đối diện làn sóng bất ổn trong năm 2009) cũng ghi nhận rằng Đảng CSTQ cũng thấy cơ nguy sụp đổ.

Bản tin viết rằng báo nhà nước Liaowang Magazine, phát hành bởi thông tấn nhà nước Xinhua, đã cảnh báo thẳng thừng về bất ổn năm 2009 vì sẽ tăng vọt các cuộc biểu tình, khi thất nghiệp lên cao làm bất mãn giới công nhân nhập cư và sinh viên đại học.

Phóng viên kỳ cựu Huang Huo của Xinhua nói trên báo này rằng, “Không ngờ vực gì, bây giờ chúng ta đang vào thời kỳ đỉnh điểm của sự cố đám đông.” Kiểu nói bí hiểm “sự cố đám đông” (mass incidents) là kiểu nói để chỉ các cuộc biểu tình và nổi loạn.

Bài báo viết, “Năm 2009, xã hội TQ có thể đối diện thêm nhiều mâu thuẫn và xô xát và các chuyện này sẽ thách thức thêm các khả năng lãnh đạo của mọi cấp cán bộ của Đảng và Nhà Nước."

Đe dọa lớn nhất cho ổn định TQ sẽ tới từ sinh viên đại học ra trường, gặp thị trường việc làm co cụm và đồng lương khó khăn hơn, và từ một làn sóng thợ nhập cư những người đã mất việc làm vì các hãng xưởng làm hàng xuất khẩu bị đóng cửa.

Tình hình nhiều tháng nay đã có nhiều hãng xưởng đóng cửa, và các trở ngại an sinh xã hội đã khởi sinh ra nhiều đợt biểu tình gần đây. Cán bộ các tỉnh nơi đã cung cấp việc làm cho hàng chục triệu công nhân nhập cư tại các hãng xưởng ở các tỉnh ven biển, bây giờ báo cáo có bước tăng vọt số người về lại làng quê sau khi mất việc và không tìm ra việc mới.

Thống kê nhà nước TQ ước tính là gần 10 triệu công nhân từ làng lên tỉnh nhập cư đã mất việc, theo bài báo, nhưng không nói rõ thời gian các việc này khai sinh.

Khi tính cả sinh viên tốt nghiệp năm 2008 và chưa tìm được việc, sẽ có hơn 7 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học năm nay đi tìm việc làm, theo ước tính của Huang.

Bài báo nói mục tiêu chính phủ TQ là đạt mức tăng thường niên GDP ở mức 8% cho năm 2009, thì chỉ tạo ra được 8 triệu việc làm cho cả nước. Trong năm 1989, chính các sinh viên bất mãn đã làm nòng cốt cho các cuộc biểu tình đòi dân chủ.

Huang viết, “Nếu trong năm 2009, có nhiều lao động nhập cư thất nghiệp không tìm việc được trong vòng nửa năm hay lâu hơn, cứ đi vòng quanh thành phố với không có đồng lương nào trong túi, thì vấn đề sẽ nghiêm trọng hơn.”

Huang là Trưởng Phòng Xinhua tại thành phố Chongqing.

Có thể Trung Quốc sẽ sụp đổ? Vì tham nhũng, vì thất nghiệp, vì ý thức dân chủ của người dân, hay vì nhiều yếu tố gộp lại?

Có một hiệu ứng cơ may sẽ thấy là: nếu Trung Quốc sụp đổ, nhà nước CS Việt Nam sẽ có thể sụp đổ dây chuyền...

Nguồn: DCVOnline

Giết cảnh sát nhưng là người hùng với dân chúng




Tòa án Nhân dân Tối cao Thượng Hải - Dương Gia trong quá trình xét xử anh vào tháng Mười tại Thượng Hải về tội đã giết sáu nhân viên cảnh sát (hình: AFP)

The New York Times

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Kẻ giết hại các Cảnh sát viên,

Nhưng là Người hùng Đối với

Một số Dân chúng Trung Quốc, Đã bị Hành quyết


DAVID BARBOZA

Ngày 26-11-2008


THƯỢNG HẢI -- Một người đàn ông 28 tuổi bị kết tội giết hại sáu nhân viên cảnh sát đã bị xử tử hình bằng cách tiêm thuốc độc vào sáng thứ Tư, theo tin từ truyền thông nhà nước, kết thúc vụ án từng lôi cuốn một số lượng lớn đáng kinh ngạc về sự đồng cảm của công chúng đối với anh ta.

Bản án tử hình đã được thi hành nhanh chóng sau khi tòa tối cao quốc gia, gọi là Tòa án Nhân dân Tối cao tại Bắc Kinh, đã không chấp nhận một đề nghị kháng án nhân danh người đàn ông Bắc Kinh thất nghiệp, anh Dương Gia, từng lao vào một đồn cảnh sát ở Thượng Hải ngày 1 tháng Bảy và đâm sáu nhân viên cảnh sát cho tới chết.

Anh Dương cho biết mình bị buộc tội oan là đã ăn cắp một chiếc xe đạp, rồi bị cảnh sát Thượng Hải đánh đập vào tháng Mười năm 2007; cảnh sát thừa nhận rằng họ đã hỏi anh ta về việc anh sử dụng một chiếc xe đạp không đăng ký song lại phủ nhận là đã đánh đập anh. Anh Dương đã gửi thư cho cảnh sát Thượng Hải và đòi có sự đền bù những tổn thất về tâm lý. Cuối cùng anh đã coi cuộc tấn công của mình vào đồn cảnh sát là một hành động báo thù.

Đối với nhiều người Trung Quốc, anh đã trở thành một biểu tượng về một kẻ tầm thường mà đã dám đứng lên chống lại thói quấy rối của cảnh sát và sự bất công của chính quyền. Trong thời gian diễn ra hai phiên toà, những người ủng hộ anh đã tập họp thành những đám đông bên ngoài phòng xử án tại Thượng Hải. Một số người đã mặc những chiếc áo phông có hình ảnh anh Dương; một số khác đã gọi anh là một người anh hùng.

Bên ngoài Thượng Hải, một số tờ báo đã cho đăng tải những bức chân dung của Dương với vẻ mặt dễ mến.

Các luật sư bảo vệ cho anh Dương nói là anh đã không ổn định về tinh thần và không đủ sức khỏe để ra tòa. Thế nhưng các công tố viên đã liệt anh vào loại sát nhân có máu lạnh, kẻ đã phạm tội ác với "bản tính hiểm độc có dự tính trước và chuẩn bị kỹ lưỡng." Anh đã bị tuyên là có tội vào ngày 1 tháng Chín và bị kết án tử hình.

Vào hồi 9 giờ hôm thứ Tư, sau khi ăn một ít cháo đặc, anh Dương đã bị hành quyết bằng cách tiêm thuốc độc, theo tin từ báo chí của nhà nước cho hay.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào tối thứ Tư, cha anh Dương, ông Dương Phú Sinh, cho biết ông căm giận hệ thống luật pháp của đất nước Trung Quốc và đã choáng váng trước bản án tử hình đứa con trai của mình.

"Tôi đã có những nỗ lực lớn nhất để giúp cho con trai tôi, để cứu lấy cuộc sống của nó, thế nhưng tôi đã thất bại, Tôi có thể nói gì bây giờ?" ông giãi bày qua điện thoại. "Đó là một trải nghiệm cay đắng đau buồn suốt bốn tháng này, là quãng thời gian khắc nghiệt và tối tăm nhất trong cuộc đời chúng tôi. Tôi sẽ nghi nhớ sâu đậm trong trái tim mình mọi giây phút đau đớn, mọi nỗ lực và mọi lời khẩn cầu mà tôi đã cố gắng; tôi hứa là sẽ không bao giờ quên nó. Và giờ đây tôi đã mất con trai rồi. Tôi nhận ra là những người dân bình thường đã phải bất lực đến thế nào."

Một ngày sau khi anh Dương Gia bị cáo buộc đã giết các nhân viên cảnh sát, mẹ anh, bà Vương Tinh Mỹ, đã bị bắt giữ tại Bắc Kinh và bị đưa tới một bệnh viện tâm thần địa phương. Gia đình bà kể là họ đã không hề được ai nói cho biết nơi bà bị giam giữ hoặc ai đã giam giữ bà; họ chỉ biết rằng bà đã biến mất. Bà được thả ra hôm Chủ nhật tuần trước, họ kể, và được phép tới thăm con hôm thứ Hai.

Cha của anh Dương nói là ông chỉ được tới thăm con trai mình một lần, vào hôm 16 tháng Mười, và anh đã không được phép có cuộc thăm viếng nào khác. Bản miêu tả của báo chí nhà nước về cái chết của con trai ông đã không giải đáp được những điều nghi vấn nhất của ông.

"Tôi vẫn không biết nơi mà nó bị hành hình, cách họ hành hình nó, nó chết nhẹ nhàng hay đau đớn, nó muốn nói với tôi và mẹ nó điều gì," cha anh Dương than thở. "Thật là vô nhân đạo khi chính quyền đã tước đi cái quyền của tôi được nhìn thấy con trai tôi; điều này đã dạy cho tôi bài học cay đắng, là cán cân công lý và luật pháp luôn luôn nghiêng về phía những kẻ có quyền lực, về phía một chính quyền hùng mạnh như thế."


Trần Dương đã bổ sung thông tin từ Bắc Kinh.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


-----------------------

Shanghai Higher People's Court, via Agence France-Presse — Getty Images

Yang Jia during his trial in October in Shanghai on charges of killing six police officers.

The New York Times

------------

Police Officers’ Killer, Hero to Some Chinese, Is Executed

By DAVID BARBOZA

Published: November 26, 2008

SHANGHAI — A 28-year-old man convicted of killing six police officers was executed by lethal injection on Wednesday morning, according to state media, ending a case that drew a surprising amount of public sympathy for the man.

The execution came shortly after the nation’s highest court, the Supreme People’s Court in Beijing, rejected an appeal on behalf of the unemployed Beijing man, Yang Jia, who stormed a Shanghai police station on July 1 and stabbed six officers to death.

Mr. Yang said he had been wrongly accused of stealing a bicycle and been beaten by the Shanghai police in October 2007; the police have acknowledged that they questioned him about riding an unlicensed bicycle but denied beating him. Mr. Yang wrote to the Shanghai police and demanded compensation for psychological damage. He eventually called his assault at the police station a revenge attack.

To many Chinese, he became a symbol of the little guy standing up against police harassment and government injustice. During his two trials, supporters gathered in crowds outside the courthouse in Shanghai. Some wore T-shirts with Mr. Yang’s image; some called him a hero.

Outside of Shanghai, some Chinese newspapers published sympathetic portraits of Mr. Yang.

Lawyers for Mr. Yang said he was mentally unstable and not fit to stand trial. But prosecutors labeled him a cold-blooded murderer who had committed the crime with “ premeditated malice and thorough preparation.” He was convicted Sept. 1 and sentenced to death. The courts rejected several appeals.

At 9 a.m. on Wednesday, after eating some porridge, Mr. Yang was executed by lethal injection, according to the state-run news media.

In a telephone interview Wednesday evening, Mr. Yang’s father, Yang Fusheng, said he was outraged at China’s judicial system and devastated by his son’s execution.

“I’ve tried my best to help my son, save his life, but failed, what can I say?” he said by phone. “It was a bitterly sad experience for these four months, the hardest and darkest time in our life. I’ll remember firmly and deeply in my heart every minute of suffering, every attempt and every appeal that I tried; I promise I will never forget it. And now I lost my son. I’ve realized how powerless common people are.”

A day after Mr. Yang was accused of killing the officers, his mother, Wang Jingmei, was detained in Beijing and sent to a local mental hospital. Her family said they were never told where she was held or by whom; they knew only that she had disappeared. She was released last Sunday, they said, and allowed to visit her son on Monday.

Mr. Yang’s father said that he visited his son once, on Oct. 16, and that he was not allowed another visit. The state media account of his son’s death did not answer his deepest questions.

“I still don’t know where he was executed, how they executed him, if he died calmly or painfully, what he wanted to say to me and to his mother,” Mr. Yang’s father said. “It’s inhuman that the government deprived my right to see my own son; it taught me bitterly, that the scale of justice and law is always leaning toward to the one who has the power, toward so mighty a government.”

Chen Yang contributed research from Beijing.

Những đứa con của thiên đường





La Thành dịch
[1]

Tổ chức phi chính phủ đang phát triển nhanh nhất trong lòng Trung Quốc

Triệu Tiêu, một cựu viên chức của Đảng Cộng sản đã cải đạo sang Thiên Chúa giáo, tươi cười bên tách trà. Ông cho rằng ở Trung Quốc đang có đến 130 triệu tín đồ đạo Thiên Chúa. Con số này lớn hơn nhiều so với những đánh giá trước đây. Chính phủ thì đưa ra con số 21 triệu – gồm 16 triệu tín đồ Kháng Cách giáo [2] , 5 triệu theo Công giáo. Những con số không chính thức, mà một trong số đó được cung cấp bởi Trung tâm Nghiên cứu Ki-tô giáo Toàn cầu (Centre for the Study of Global Christianity) ở Massachusetts, thì cho ước tính khoảng 70 triệu. Song tiên sinh họ Triệu không đơn độc trong đánh giá của mình. Một khảo cứu về Trung Quốc của PEW FORUM về Tôn giáo và Đời sống Cộng đồng, một cơ quan tư vấn chính sách ở Hoa Kỳ, cho biết những cứ liệu khảo sát gián tiếp gợi ra rằng nhiều Ki-tô hữu không liên kết (= không gia nhập các nhà thờ) đã không được tính vào những đánh giá chính thức. Còn theo một nhóm vận động hậu trường đóng hội sở tại Texas có tên là Hội Cứu tế Trung Quốc (China Aid Association – CAA), thì vị quan chức là giám đốc cơ quan chính phủ đảm trách việc giám sát mọi tôn giáo ở Trung Quốc đã tiết lộ rằng vào đầu năm 2008, con số sát thực tế đã là 130 triệu.


Nếu vậy, Trung Quốc đang có số lượng tín đồ Thiên Chúa giáo nhiều hơn số đảng viên cộng sản (74 triệu), và có lẽ ở Trung Quốc đang có nhiều người theo đạo Chúa hơn ở bất cứ quốc gia nào. Vào năm 1949, khi những người cộng sản chấp chính, [mới chỉ có] dưới 1 phần trăm dân số từng chịu lễ rửa tội (baptism), hầu hết trong số họ là người Công giáo. Giờ đây, số giáo hữu Ki-tô lớn nhất và gia tăng nhanh nhất đang thuộc về các “thánh thất tại gia” Kháng Cách giáo.


Ở một khu ngoại ô của Thượng Hải, qua khỏi đại lộ Hải Ninh, các lân gia đang cảnh giác nhìn sang một hàng hiên dẫn tới một gian phòng, nơi những vị khách đang lần lượt đi vào; lượng người dừng ở con số 25 – sự tụ tập tối đa không cần phải xin phép theo luật định. Bên trong, các giảng huấn viên trẻ người nội thành ngồi trên những chiếc xô-pha và ghế bành bọc giả da. Một thiếu phụ mặc chiếc áo phông in hình Che Guevara đang làm cử chỉ ban phúc cho nhóm người, còn một người đàn ông thì đang chiếu từ chiếc laptop của anh ta lên tường một tài liệu được tải xuống từ Internet. Những mái đầu quay về phía màn ảnh và đồng thanh hát: “Vinh quang... Vinh quang... Vinh quang... Thiêng liêng... Thiêng liêng... Thiêng liêng... Chúa đang ở kề bên mỗi chúng con...” Đó là một buổi sáng Chủ nhật, và những cuộc hành lễ đang được bắt đầu bên trong hàng nghìn ngôi “thánh thất tại gia” trên khắp nước Trung Hoa.


Những “nhà thờ tại gia” là những giáo đoàn nhỏ, tụ tập để hành lễ một cách bí mật – thường trong các căn hộ – nhằm tránh sự dòm ngó của Đảng Cộng sản. Từ thập niên 1950, các nhà thờ Công giáo và Kháng Cách giáo chủ yếu [ở Trung Quốc] đã được chuyển thành những chi nhánh của một cơ quan hành chính chuyên trách về các tôn giáo. Các nhà thờ tại gia [hiện đang] có thân phận không rõ ràng: chẳng bị cấm đoán, song cũng không hoàn toàn được chấp thuận. Các nhà thờ tại gia Kháng Cách – trong nỗ lực nhu hoà tránh đối đầu và giữ quy mô nhỏ (thường dưới 25 người) – đang được hưởng sự khoan thứ nhiều nhất, một cách miễn cưỡng (về phía chính quyền). Các nhóm Công giáo [tại gia] thì bị xăm soi chặt chẽ hơn, phản ánh mối quan hệ căng thẳng giữa [chính quyền] Trung Quốc với Vatican.


Sự tụ tập bí mật tại gia của các tín đồ đã từng là nét đặc trưng của giáo hội Ki-tô thời sơ sử, khi mà họ thường xuyên phải tìm kế trốn tránh sự ruồng bố của nhà cầm quyền Đế quốc La Mã. Điều nghịch lý là việc cố ý giữ các giáo đoàn ở quy mô nhỏ đã giúp quảng bá tín ngưỡng. Diễn biến này giờ đây đang lặp lại ở Trung Quốc. Đảng Cộng sản, ưu phiền bởi một ý thức hệ cạnh tranh, đang đứng trước một lựa chọn khó khăn: việc kìm giữ các thánh thất tại gia ở quy mô nhỏ sẽ đảm bảo cho không một giáo đoàn nào đủ lớn mạnh để đe doạ ban lãnh đạo Đảng ở địa phương, song phải trả giá bằng việc số lượng các thánh thất đang gia tăng nhanh chóng.


Ngôi nhà thờ ở Thượng Hải vừa mới được hai năm tuổi song đã có hai con đẻ: một dành cho công nhân trong các công ty đa quốc gia, cái kia dành cho các lao động di cư [3] . Cùng với sự quảng bá của Lời [4] , sự nhân lên nhanh chóng của các thánh thất đã cung cấp một phương tiện chống lại các mối đe doạ. Vào năm ngoái, một mục sư đã nói với Far Eastern Economic Review rằng khi người đứng đầu một nhà thờ bị bắt, “giáo đoàn sẽ lập tức chia tách thành năm, sáu hoặc thậm chí mười thánh thất tại gia mới.”


Sự hình thành các “nhà thờ” một cách tràn lan vừa là phúc, vừa là hoạ đối với phong trào thánh thất tại gia. Tiên sinh họ Triệu có vẻ mặt luôn tươi cười cho rằng tài chính không phải là vấn đề. “Chúng tôi không phải trả lương hoặc xây nhà thờ.” Song “chất lượng quản lý” thì khó lòng bảo đảm. Các thánh thất tại gia có thể tổ chức giảng thánh kinh hoặc tải xuống các bản thánh ca từ Internet, song lại không dễ có được những mục sư giàu kinh nghiệm. “Ở Trung Quốc, một Ki-tô hữu hai tuổi đạo thì giảng dạy cho các giáo hữu một tuổi,” một mục sư cho hay.


Do chỗ hầu hết các nhà thờ tại gia Kháng Cách là phi giáo phái (không liên kết với các giáo lý như Lutheranism [Tin Lành], Methodism [Giám Lý], v.v...), họ cũng không có những nghi thức lễ bái hay tập tục xác định. Mục vụ của họ giống như các buổi học Kinh Thánh. Điều này chất một gánh nặng lên vai các mục sư. Một vị mục sư thuộc giáo đoàn Thượng Hải từng thăm viếng nhiều nhà thờ tại gia đã thở dài ngao ngán rằng: “Vị cha này biết anh ta đang nói gì...”


Tuy nhiên, những khó nhọc “tuổi mọc răng” của các nhà thờ là chuyện nhỏ so với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng các Ki-tô hữu. Sau cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989, nhiều nhà dân chủ vỡ mộng đã theo Thiên Chúa giáo: sáu trong số khoảng ba chục nhà lãnh đạo sinh viên đã trở thành các Ki-tô hữu. Các thánh thất tại gia mới ở Trung Quốc đang ngập tràn nhiệt huyết của những người cải đạo: nhiều giáo hữu đến mang theo cả gia đình và đồng nghiệp của họ. Một nho sĩ Trung Hoa nói trong nụ cười buồn bã rằng hầu hết các nữ sinh xinh đẹp ở các trường đại học đã thành giáo dân Thiên Chúa, và chỉ hẹn hò với những Ki-tô hữu khác.



Thánh thiện hơn và thời thượng hơn

Đạo Thiên Chúa cũng đang theo chân những người Hoa xuất dương. Nhiều con chiên của Chúa đã từng theo học ở Hoa Kỳ, cải đạo ở đó rồi mang theo tín ngưỡng mới về nước. Như lời tiên sinh họ Triệu, vài người trong giáo đoàn thánh thất tại gia ở Thượng Hải từng tu nghiệp ở nước ngoài. Một nhà văn ở Bắc Kinh đã cải theo Thiên Chúa giáo cho biết, trước năm 2000, hầu hết tín đồ đều ở thôn quê. Từ sau năm 2000 họ mang tín ngưỡng của mình vào các đô thị, quảng bá đạo Chúa trong giới trí thức.


Toàn bộ điều này đang đưa đến một cái gì đó mà ít nhất, có thể khiến người châu Âu phải ngạc nhiên. Ở nhiều thánh địa xưa kia của đạo Ki-tô, tôn giáo gắn bó với những truyền thống và điển lễ. Ở Trung Quốc, nó [lại] đang liên kết với tính hiện đại, doanh thương và khoa học. “Chúng tôi là những giáo hữu Ki-tô thế hệ đầu tiên và những doanh nhân thế hệ đầu tiên,” lời một mục sư [Kháng Cách] của một thánh thất tại gia. Trong một bài báo từng gây nhiều tranh cãi hồi năm 2006, Triệu tiên sinh đã viết rằng “nền kinh tế thị trường đang đẩy lùi sự vô công rỗi nghề, song lại không thể can ngăn chúng nhân khỏi thói dối trá và làm tàng. Một tín ngưỡng mạnh mẽ sẽ giúp ngăn cản sự thiếu trung thực và xâm hại.” Trong mắt ông, đạo Ki-tô và kinh tế thị trường đang nắm tay nhau song hành.


Lâu nay, đối với cá nhân các tín đồ, sự quảng bá Ki-tô giáo chủ yếu là một công việc riêng tư. Câu hỏi lớn nhất [giờ đây] là liệu nó còn tiếp tục riêng tư được nữa hay không. Mức độ phát triển và số lượng môn đồ của nó đang gợi ý câu trả lời ‘không’. Song vào lúc này, cả các giáo hữu Ki-tô lẫn những người cộng sản đều tỏ ra sẵn lòng để cho tình trạng nhập nhằng kia được nấn ná thêm một thời gian.


“Các giáo hữu Ki-tô sẵn sàng chung sống cùng hệ thống,” tiên sinh họ Triệu thổ lộ. “Thiên Chúa giáo cũng là nền móng cho tư cách công dân tốt ở Trung Quốc.” Hầu hết giáo dân đều nói rằng họ không phải là một tổ chức chính trị và không chủ trương thách thức Đảng Cộng sản. Song họ cũng cho thấy sự đụng độ với chính sách công là không tránh khỏi; để thí dụ: không một giáo dân nào chấp nhận chính sách một con.


Một cách chính thức, Đảng Cộng sản nghiêm cấm các đảng viên giữ niềm tin tôn giáo, còn các nhà thờ thì cho biết họ [thường xuyên] chịu sự quấy rầy của chính quyền. Vị chủ tịch của hiệp hội các nhà thờ tại gia ở Bắc Kinh, ông Trương Minh Tuyền, đã bị trục xuất khỏi thủ đô trước Thế vận hội và được thông báo rằng sự quay trở lại của ông sẽ không được hoan nghênh. Hồi đầu tháng Sáu, chính quyền tỉnh Hà Nam đã bắt giữ nửa tá thành viên các thánh thất tại gia với lời buộc tội rằng họ đã chuyển một cách bất hợp pháp những khoản quyên góp thiện nguyện tới các nạn nhân động đất ở Tứ Xuyên. CAA cáo giác rằng sự cản phá [hoạt động của] các nhà thờ tại gia đang gia tăng.


Trên thực tế, thái độ của nhà cầm quyền tỏ ra là nước đôi. Hồi tháng Mười Hai năm 2007, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã chủ trì một cuộc gặp với các nhà lãnh đạo tôn giáo và nói với họ rằng “tri thức của giáo dân cần phải được khai dụng để xây dựng một xã hội phồn vinh.” Sự thật thì giáo dân Thiên Chúa và những người cộng sản đang vờn nhau trong ánh mắt cảnh giác. Song khó mà tránh khỏi kết luận rằng một ngày nào đó, Thiên Chúa giáo sẽ có một ảnh hưởng chính trị. “Nếu muốn biết nước Trung Hoa sẽ ra sao trong tương lai, hãy soi xét tương lai của Thiên Chúa giáo ở Trung Quốc,” Triệu tiên sinh nhận định.



Bản tiếng Việt © 2008 talawas



[1]Nhan đề của nguyên bản – “Sons of heaven” – là một sự chơi chữ: “Son [of God]” (Chúa Con) cũng là danh xưng mà các Ki-tô hữu dùng để gọi Jesus Christ, nhất là khi ông được tham chiếu đến ngôi thứ hai trong khái niệm “Ba Ngôi” (Trinity). (Các chú thích là của người dịch.)

[2]Trên hiện trường tiếng Việt, “Kháng Cách giáo” (Protestantism) thường được gọi là “đạo Tin Lành”, trong khi thực ra, Tin Lành (Lutheranism) chỉ là một trong những hệ phái của Kháng Cách giáo. Rất có thể, điều này phản ánh một thực tế rằng Lutheranism lâu nay đang là hệ phái Kháng Cách duy nhất tồn tại và phát triển ở Việt Nam.

[3]“lao động di cư” (migrant labourers): người lao động có gốc gác nông dân, từ nông thôn tràn vào các đô thị kiếm sống. Ở các thành phố duyên hải Trung Quốc hiện nay, số lượng tổng cộng các lao động loại này rất lớn, chừng 200–300 triệu người. Trong tiếng Trung Quốc, họ được gọi là các “di-cư lao-công” hoặc “nông-công-nhân”.

[4]Lời (Word, viết hoa): một cách gọi khác của Kinh Thánh