Hiển thị các bài đăng có nhãn chính_trị_xã_hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính_trị_xã_hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Lách khỏi “lề phải”: Toàn bộ Ban Biên tập tờ Ðại Ðoàn Kết bị cách chức




Việt Nam hiện có 813 ấn phẩm của 634 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh và đài truyền hình với khoảng 15,000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, song tất cả đều của các tổ chức Ðảng, các cơ quan nhà nước và những đoàn thể phụ thuộc Ðảng CSVN. Chưa có tờ báo nào hoàn toàn độc lập với hệ thống chính trị hiện hành. “Tự do báo chí” ở Việt Nam là phải tuân thủ tất cả chỉ đạo của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng CSVN. Bất tuân sẽ bị tước quyền hành nghề.

Hà Nội (NV) - Theo các nguồn thạo tin từ Việt Nam, hôm Thứ Năm 23 tháng 10, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, cơ quan chủ quản tờ Ðại Ðoàn Kết đã bỏ phiếu, để xác định hình thức kỷ luật đối với các thành viên trong ban biên tập tờ Ðại Ðoàn Kết. Kết quả, ông Lý Tiến Dũng, tổng biên tập và ông Ðặng Ngọc, phó tổng biên tập cùng bị “cảnh cáo”, đồng thời phải “chuyển công tác”. Nói cách khác, cả hai sẽ không còn cơ hội làm báo.

Hai nhân vật kể trên bị kỷ luật vì có hàng loạt “sai lầm”: Tự động đặt tựa “Cần phải xóa bỏ bao cấp về chính trị” khi trích đăng tham luận của Linh mục Nguyễn Thiện Cẩm (ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, phó chủ nhiệm Ủy Ban Ðoàn Kết Công Giáo), tại hội nghị của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, hồi đầu năm 2007. Chống chỉ đạo của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng CSVN bằng việc đăng thư góp ý của Tướng Võ Nguyên Giáp về việc không nên đập bỏ Hội Trường Ba Ðình. Tự ý sửa đổi manchette của báo Ðại Ðoàn Kết từ “Cơ quan trung ương của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam” thành “Diễn đàn của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam”. Riêng ông Lý Tiến Dũng còn phạm thêm một “khuyết điểm” khác, đó là dám phê phán những chuyện bất thường xảy ra tại Ban Tuyên Giáo Trung Ương (thư phê phán này bị các thế lực “thù địch, phản động” ở nước ngoài khai thác).

Cũng theo các nguồn thạo tin, trong tuần này, ông Vũ Trọng Kim, tổng thư ký mới của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam sẽ tiến hành “sắp xếp” lại tờ Ðại Ðoàn Kết. Theo dự kiến, ông Ðinh Ðức Lập, phó ban tuyên huấn của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam sẽ trở thành tổng biên tập mới của tờ báo này.

Những “sai phạm” dẫn tới việc cách chức hai thành viên chủ chốt trong ban biên tập tờ Ðại Ðoàn Kết đều là “sai phạm” cũ. Nay được “tổng hợp” để “xử lý” một lần.

Ðại Ðoàn Kết là hậu thân của tờ “Cứu Quốc”, cơ quan ngôn luận của Tổng Bộ Việt Minh ra đời năm 1941. Sau khi ông Lý Tiến Dũng trở thành tổng biên tập, hai năm qua, tờ Ðại Ðoàn Kết có nhiều nội dung đáng quan tâm vì “thoát ly” lề phải. Trong đó, đáng chú ý nhất là việc phê phán và đòi truy cứu trách nhiệm ông Lê Thanh Hải, bí thư Thành Ủy Sài Gòn, ủy viên Bộ Chính Trị Ðảng CSVN, về những vấn đề có liên quan đến hàng loạt sai phạm khi thực hiện khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Ông Lê Thanh Hải là em rể bà Trương Mỹ Hoa, cựu ủy viên Bộ Chính Trị (một nhân vật liên quan trực tiếp đến các sai phạm của Tamexco vào thập niên 1990, song sau đó, chỉ có Phạm Huy Phước, giám đốc Tamexco bị tử hình). Khi còn là chủ tịch thành phố Sài Gòn, ông Lê Thanh Hải được xem là nhân vật đứng đàng sau hàng loạt sai phạm trong việc thực hiện các công trình hạ tầng do lực lượng Thanh Niên Xung Phong Sài Gòn đảm nhận vai trò nhà thầu.

Ông Lê Thanh Hải cũng được xem là nhân vật chính trong vụ Huỳnh Ngọc Sĩ, trưởng ban quản lý Dự án đại lộ Ðông Tây, nhận hối lộ 820 ngàn USD từ CPI - một tập đoàn tư vấn xây dựng của Nhật. Tuy chính phủ Nhật nhiều lần yêu cầu Việt Nam hợp tác điều tra vụ này, song phía Việt Nam chỉ mới hứa sẽ xem xét. Một số nguồn thạo tin kể rằng, sau khi vụ đưa hối lộ bị báo chí nước ngoài phanh phui (báo chí Việt Nam bị cấm đưa tin, viết bài về vụ này), dù thiệp mời đã được phát rộng rãi, song đám cưới giữa con trai ông Hải và con gái ông Sĩ vẫn bị hai gia đình tạm hoãn vô thời hạn.

Hồi cuối năm ngoái, trong một lá thư gửi ông Trương Tấn Sang, thành viên Bộ Chính Trị và là ủy viên thường trực Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng CSVN, được phổ biến rộng rãi trên Internet, ông Lý Tiến Dũng công khai chỉ trích gay gắt Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng CSVN: “Tôi nghĩ kiểu đe nẹt, ngăn chặn báo chí một cách vô lối như trường hợp không cho đăng thư của Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp vừa qua, bằng động tác nhắc nhở 'dù là ai cũng không được đăng, phát' (bản thông tin công tác tuần số 39 của Ban Tuyên Giáo Trung Ương) là điều không nên. Cho đó là ‘kỷ luật thông tin’ lại càng không nên” Cũng trong thư này, ông Lý Tiến Dũng cho rằng: “Dư luận hiện nay trong nhân dân, trong đội ngũ trí thức, văn nghệ, báo chí... ngày càng nhiều và bất lợi, khi chúng ta quy tụ về để giữ các vị trí lãnh đạo Ban Tuyên Giáo Trung Ương quá nhiều những người làm không được việc, không được đồng chí và nhân dân ủng hộ ở các nơi khác”.

Ông Lý Tiến Dũng từng bị Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng CSVN đề nghị “truy cứu lý lịch và truy cứu việc bổ nhiệm vào chức vụ tổng biên tập”. Ðổi lại, ông Dũng là tổng biên tập đầu tiên công khai chỉ trích Ban Tuyên Giáo Trung Ương.

Năm 2006, Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương và Ban Khoa Giáo Trung Ương của đảng Cộng Sản Việt Nam được sáp nhập thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương. Ðây là cơ quan chuyên giám sát và chỉ đạo tất cả các vấn đế liên quan đến báo chí, văn hóa, nghệ thuật ở Việt Nam. Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương là ông Tô Huy Rứa với 9 phó ban, trong đó có ông Hồng Vinh và ông Ðào Duy Quát. Ông Hồng Vinh từng cấm báo chí CSVN đưa tin về việc Lương Quốc Dũng, phó chủ nhiệm Ủy Ban Thể Dục Thể Thao (chức vụ ngang hàng thứ trưởng) hiếp dâm trẻ em chỉ vì tư lợi. Còn ông Ðào Duy Quát từng bị tố cáo nhiều lần về khả năng, đặc biệt là tư cách (chuyên sàm sỡ với phụ nữ).

Thư của ông Lý Tiến Dũng được xem là “giọt nước làm tràn ly”. Ngày 16 Tháng Giêng năm nay, báo chí CSVN đưa tin: “Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng vừa có quyết định để ông Hồng Vinh và ông Ðào Duy Quát thôi giữ chức phó Ban Tuyên Giáo Trung Ương kể từ 1 Tháng Giêng năm 2008”, tuy nhiên: “Ông Hồng Vinh vẫn tiếp tục đảm nhiệm chức vụ phó ban chỉ đạo thông tin đối ngoại và đảm trách cương vị phó chủ tịch hội đồng lý luận văn nghệ trung ương. Còn ông Ðào Duy Quát vẫn tiếp tục giữ cương vị tổng biên tập báo điện tử đảng Cộng Sản Việt Nam”. Riêng ông Lý Tiến Dũng vô sự trong 10 tháng thì bị cấm làm báo. (G.Ð)

Nguồn: Nguoi Viet Online

Nguyên nhân nào khiến 2 lãnh đạo tờ Đại Đoàn Kết bị kỷ luật?




Hai lãnh đạo tờ báo Đại Đoàn Kết, thuộc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, đã bị thuyên chuyển vì "vi phạm Luật Báo chí".

Nói với BBC, ông Đinh Đức Lập, Ủy viên Trung ương MTTQVN, xác nhận ông Lý Tiến Dũng, Tổng biên tập và Đăng Ngọc, Phó Tổng biên tập đã nhận quyết định kỷ luật chính thức.

"Hai anh sẽ chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Trong quyết định nói rõ hai anh ấy vi phạm Luật Báo chí."

Ông Lập, Giám đốc Trung tâm đào tạo cán bộ của Mặt trận, nói thêm: "Thời gian vừa qua, nhà nước Việt Nam đã phải xử lý một số trường hợp như báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và một số báo khác vì vi phạm Luật Báo chí của nước CHXHCN Việt Nam."


Dưới đây là bài viết của Thái Duy đã được đăng trên tờ Đại Đoàn Kết và một trong những nguyên nhân dẫn đến việc kỹ luật 2 lãnh đạo của tờ báo. Bài viết nêu rõ việc áp dụng chủ nghĩa xã hội theo mô hình nước ngoài xa lạ với Việt Nam là một sai lầm nghiêm trọng, dẫn tới sự không còn gắn bó giữa lợi ích của nhân dân và chủ trương, chính sách của Đảng. Ngoài bài này, tháng 11 năm ngoái báo Đại Đoàn Kết còn đăng bài của đại lão công thần Võ Nguyên Giáp phản đối việc xây mới tòa nhà quốc hội trên khu đất Hòang thành Thăng Long dù vấn đề đã được quốc hội thông qua. Bài báo của Võ Nguyên Giáp đã bị các báo khác từ chối đăng

Đợt sinh hoạt chính trị lớn năm 2008

"Sau Đại thắng Mùa xuân 1975, đất nước độc lập và thống nhất, chủ nghĩa xã hội theo mô hình nước ngoài xa lạ với Việt Nam lại được Quốc hội nhất trí đồng tình ủng hộ và từ sai lầm nghiêm trọng này, các chủ trương, chính sách không còn xuất phát từ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, quan hệ giữa Đảng và dân không còn gắn bó như trước.

Đảng và Nhà nước vẫn thấy chỉ có cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mới đưa đất nước đến dân giầu nước mạnh, còn trong dân lại khác hẳn, mỗi tầng lớp, mỗi ngành nghề đều lặng lẽ, kín đáo tìm cách tự cứu, cởi trói khỏi cơ chế mất lòng dân này.

Cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái mới và cái cũ diễn ra giữa nhân dân và bộ máy Đảng và Nhà nước quan liêu, vẫn còn mê tín những kinh nghiệm nước ngoài thiếu chọn lọc.

Đông đảo nhân dân và các thành viên Mặt trận, các nhân sĩ, trí thức góp nhiều ý kiến, nêu nhiều kiến nghị nhằm cứu nền kinh tế đã lâm vào khủng hoảng cực kỳ nghiêm trọng, vựa lúa lớn nhất nước là Đồng bằng sông Cửu Long cũng thiếu gạo. Đại diện cho các tầng lớp nhân dân, chính là đại diện cho cái mới là Mặt trận, trong khi Đảng và Nhà nước vẫn còn lún sâu trong cái cũ. Còn gì không đẹp bằng chữ "CHUI" thế mà hàng chục năm cách làm ăn mang lại no ấm cho dân, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn cách làm ăn cũ do trên áp đặt lại bị gán cho tội làm "chui", dân vẫn phải "chui" kiên trì, gan góc chờ đợi những người lãnh đạo cuối cùng nhìn ra sự thật, công nhận làm "chui" mới có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam.

Mặt trận là nơi tổng hợp ý kiến của toàn dân, chỉ có Mặt trận mới có thể tổ chức phản biện để Đảng và Nhà nước thường xuyên nhận được phản ứng của các tầng lớp nhân dân đối với mọi chủ trương, chính sách, khen hoặc chê, đồng ý hoặc cần sửa chữa như thế nào mới hợp lòng dân ý Đảng.

Trước thử thách chưa từng thấy, lực cản cái mới lại là bộ máy Đảng và Nhà nước, đáng lẽ Mặt trận càng phải là đại diện của dân, đứng về phía quyền lợi chính đáng của dân vì quyền lợi chính đáng của dân bao giờ cũng là quyền lợi của Đảng, phản ánh trung thực mọi tâm tư nguyện vọng của dân, mọi kiến nghị, mọi hiến kế nhằm tháo gỡ khó khăn chồng chất do chính chủ quan gây ra. Rất tiếc, đấu tranh giai cấp lại là động lực chủ yếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội phục hồi nền kinh tế vì vậy chủ nghĩa xã hội có những khuyết tật, nền kinh tế lụn bại là tất nhiên, đồng thời Mặt trận bị thu hẹp, không thể thực hiện chức năng đích thực là giám sát và phản biện xã hội. Mỗi lần đấu tranh giai cấp là động lực của cách mạng, tổn thất không sao lường hết, từ cải cách ruộng đất kết hợp với đấu tố, cải tạo công thương nghiệp đến những năm bao cấp, chúng ta thấy mỗi lần coi nhẹ khối đại đoàn kết dân tộc, nhân dân phải trả giá quá đắt.

Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đối lập với dân chủ và đoàn kết, Mặt trận cũng bị hành chính hóa, trong thực chất Mặt trận là một cơ quan Đảng và Nhà nước hơn là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất, đại diện cho toàn dân. Mặt trận cũng nhất trí cao với mọi chủ trương chính sách, nghị quyết xa rời cuộc sống của Đảng và Nhà nước mặc dù các tầng lớp nhân dân không thể chấp nhận một nền kinh tế chỉ còn hai thành phần còn nhân dân bị trói buộc không được tự do làm ăn, thậm chí nhà doanh nghiệp còn phải về lao động cải tạo ở nông thôn để đảm bảo không còn mầm mống bóc lột. Nếu Mặt trận thực sự là cầu nối giữa dân với Đảng như từng gắn bó máu thịt giữa dân với Đảng suốt 30 năm kháng chiến và là nguồn gốc của mọi sức mạnh thì cơ chế bao cấp không thể tồn tại lâu như thế, phải đến khi nền kinh tế đã kiệt quệ, nạn đói đã lan rộng, vận nước đã ngàn cân treo sợi tóc thì đổi mới mới trở thành hiện thực.

Đây là bài học dân vận rất đáng ghi nhớ và nhân năm 2008 tiến hành đợt sinh hoạt chính trị lớn trong các cấp Mặt trận và toàn dân chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc Mặt trận lần thứ VII, bài học này vẫn còn tính thời sự, rất cần được suy ngẫm, nhìn lại để thấy khi Mặt trận chưa thực sự coi giám sát và phản biện xã hội là chức năng hàng đầu thì Mặt trận chưa thể đại diện cho toàn dân, vì vậy Mặt trận chưa là chỗ dựa vững chắc của Đảng. Hơn 20 năm đổi mới, Mặt trận đã có nhiều thay đổi, những ngăn cách do chiến tranh để lại đã được dần dần khắc phục, các tầng lớp trong xã hội xích lại gần nhau hơn, nhất là đối với đa số những người trước đây đã sống và làm việc trong chế độ Sài Gòn trước 1975. Quan điểm về đoàn kết dân tộc, đã không ngừng được bổ sung và phát triển ngày càng tiến bộ và thiết thực hơn. Quan điểm đấu tranh giai cấp đã bị đẩy lùi một phần nhưng còn gây khó khăn, ví dụ còn kỳ thi đối với kinh tế tư nhân trong việc vay vốn, trong hủ tục hành chính, trong thuê mướn mặt bằng sản xuất ... vẫn chưa có sự bình đẳng thực sự giữa các thành phần kinh tế. Giám sát đã có một số tiến bộ nhưng phản biện xã hội còn rất xa mới đạt yêu cầu Đảng đề ra.

Sau WTO, đi lên chủ nghĩa xã hội không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đề phòng lại có thời gian chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không theo kịp cuộc sống và trong trường hợp ấy, Mặt trận phải thực sự là nơi quy tụ mọi nhân tài, tập trung trí tuệ của toàn dân để giúp Đảng và Nhà nước theo kịp cái mới luôn luôn thay đổi, không thể tái diễn như thời bao cấp, việc đáng giải quyết một năm là cùng kéo dài hàng chục năm, riêng khoán hộ trong nông nghiệp kéo dài hơn 20 năm, làm cho dân chịu đói khổ quá lâu. Chưa ý thức được đầy đủ, sâu sắc, giám sát và phản biện xã hội là lý do tồn tại của Mặt trận, chỉ có Mặt trận mới thực hiện được trọng trách này thì Mặt trận còn tiếp tục làm những việc nơi khác cũng làm được.

Đại hội lần thứ X (2006) rất quan tâm đến đổi mới và nâng cao chất lượng mọi hoạt động của Mặt trận, Đại hội đề ra chủ trương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với việc hoạch định và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng, kể cả với công tác tổ chức và cán bộ. Xây dựng một cơ chế giám sát và phản biện xã hội phù hợp với đặc điểm tình hình nước ta là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Một đảng duy nhất lãnh đạo rất cần một Mặt trận có đủ khả năng giám sát chặt chẽ kết hợp với phản biện xã hội dù có tai mắt của nhân dân mới giúp Đảng phát hiện nỗi bất cập lệch lạc mới không còn lún sâu trong cái cũ quá lâu, không phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng.

Đại hội lần thứ X khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát: Đại đoàn kết dân tộc làđường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đợt sinh hoạt chính trị lớn năm nay là dịp để chúng ta nắm vững quan điểm rất quan trọng của Đảng: Động lực để phát triển đất nước là đại đoàn kết dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc để trở thành động lực thúc đẩy đổi mới.

Thái Duy

Việt Nam: Đằng sau những vụ tống giam nhà báo






Những người kiên định lập trường của Đảng Cộng sản có tham vọng giết những người đưa tin và làm sứt mẻ hình ảnh của thủ tướng

Bài của Roger Mitton

Thứ Sáu, ngày 24-10-2008


Việc kết tội hai nhà báo có tên tuổi tại Hà Nội vào tuần trước đã có liên qua tới các cuộc đấu đá quyết liệt trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam. Phiên tòa lộ vẻ đầy nhạo báng xử án các nhà báo và hai điều tra viên chống tham nhũng đã biểu thị cường độ xung đột giữa phái bảo thủ và phái cải cách trong đảng. Kẻ thua cuộc dường như là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tập hợp xung quanh ông Dũng là một nhóm người mới gồm các nhà kỹ trị có tư tưởng cải cách và một số khác bênh vực cho một xã hội cởi mở hơn và minh bạch hơn. Hầu hết họ xuất thuân từ miền Nam và đã học hành tại các trường đại học của phương tây. Dưới quyền ông Dũng, nhóm này đã tập trung vào giải pháp hướng tới một nền kinh tế hướng tới thị trường hơn với một ý thức nhấn mạnh tới mục tiêu tăng trưởng cao, đầu tư nhiều hơn và mức tiêu dùng cao hơn.

Đang phản đối họ là một nhóm lớn hơn gồm những nhà lãnh đạo già nua và có thâm niên hơn, hầu hết từ miền Bắc và miền Trung Việt Nam, và chủ yếu thuộc cánh quân đội và an ninh trong đảng, họ đặt sự ổn định đất nước lên trên tất cả những ưu tiên khác. Những người trong giới bảo thủ này lưu tâm tới bất cứ vấn đề cải cách nào, kinh tế hay chính trị, với thái độ cẩn trọng đáng kể, vì theo quan điểm của họ, những cải cách đang mang theo một thái độ đe doạ không thể nào nhầm lẫn được đối với địa vị đứng đầu của đảng.

Căn cứ theo hiến pháp, Việt Nam là một quốc gia độc đảng. Không một tổ chức chính trị nào khác được phép tồn tại ngoại trừ Đảng Cộng sản. Và đương nhiên, bất cứ biến cố nào đưa đảng vào tình trạng bị tai tiếng đều mang theo tiềm năng làm yếu đi sự chấp nhận của quần chúng đối với quyền hành tuyệt đối này. Và không một sự kiện nào trong những năm gần đây lại có thể bôi bẩn hình ảnh của đảng quá mức như là vụ bê bối PMU-18 từ hai năm trước.

Trở lại thời điểm đó, vào thời gian trước khi diễn ra Đại hội lần thứ 10 của đảng (4/2006), các điều tra viên cảnh sát đã tiết lộ các chi tiết cho giới truyền thông về việc làm thế nào mà các quan chức trong Ban Quản lý Dự án số 18 (PMU-18) của Bộ Giao thông đã chiếm dụng một cách bất hợp pháp những khoản tiền rất lớn để cá độ bóng đá trong giải Premier League của Anh. Người đứng đầu PMU-18 là Bùi Tiến Dũng công khai thú tội đã sử dụng 2,6 triệu đô la từ các quỹ của bộ do Ngân hàng Thế giới và Nhật bản cung cấp để chơi trò cờ bạc và có những hoạt động phi pháp khác.

Vào lúc đó, không một ai trong những người lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam nói ra khả năng có thể có bất cứ mối nghi ngờ nào về hành động đồng lõa của các quan chức bộ giao thông trong những mưu đồ tham nhũng. Điều đó lập tức được xem là tất yếu, không chỉ về phía người dân bình thường - là những người, trong bất cứ tình huống nào, đều tin rằng toàn bộ các quan chức của đảng từ các vị đứng đầu cho tới cấp thấp nhất đều tham nhũng - mà còn cả giới lãnh đạo đất nước rằng các quan chức này phạm tội và phải bị trừng trị. Đến mức nhóm PMU-18 vì vậy liền bị phạt tù lên tới 13 năm, trong khi bộ trưởng giao thông đã bị ép từ chức và thứ trưởng của ông ta đã bị bắt để tiến hành điều tra sâu hơn.

Hai sĩ quan cảnh sát chủ chốt là những người đã tiết lộ thông tin với giới truyền thông cho biết họ làm vậy vì biết rằng đó là con đường nhanh chóng nhất để khích động các thượng cấp của mình đưa ra hành động chống lại những kẻ bất lương.

Tất nhiên, thái độ vị tha thị dân không chỉ có trên phim ảnh. Họ và các nhà báo cũng đã biết, dựa vào sự tính toán thời gian cho các đợt tiết lộ thông tin, là họ đã bị lợi dụng để làm mất tín nhiệm những nhân vật nào đó đang trong giai đoạn thăng quan tiến chức ở Đại hội 10 của Đảng vào tháng Tư [năm 2006].

Rốt cuộc, tình trạng tham nhũng đã tràn lan khắp tất cả các cấp bậc của đảng, và miễn là nó được thực hiện một cách tương đối thận trọng và không quá đáng, nó được tha thứ với mục đích để cho các quan chức trong quân đội, công an và ngành dịch vụ dân sự có thể sống sung túc, mà không phải kể tới những khoản tiền lương chính thức nhỏ mọn của mình.

Bộ trưởng giao thông lúc đó, ông Đào Đình Bình, đã là uỷ viên chủ chốt trong ban chấp hành trung ương Đảng và được xem như sẽ là một thành viên tiềm năng trong Bộ Chính trị. Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến của ông, và thiếu tướng Cao Ngọc Oánh, một bạn đồng liêu với người đứng đầu PMU-18 Bùi Tiến Dũng, đã được xem như là những người được ưa chuộng để bầu vào ban chấp hành trung ương và có vẻ phù hợp để thăng cấp lần lượt lên bộ trưởng và thứ trưởng bộ giao thông. Thế nhưng sau khi bị phát hiện ăn hối lộ trong vụ bê bối tham nhũng đó, những cơ hội thăng tiến của họ đã tắt ngấm.

Như nhà phân tích chính trị Huy Đức đã lưu ý trên blog của ông, là trong nền chính trị phe cánh ở Việt Nam, nhiều quan chức "sử dụng các tờ báo như là một thứ phương tiện để thúc đẩy mục đích riêng của họ." Và họ thường làm như thế để đẩy nhanh hơn việc loại bỏ các đối thủ của mình.

Đối với phạm vi mà sự suy sụp trong băng nhóm PMU-18 đã thể hiện mối liên quan trực tiếp của mình đối với tham nhũng, hay đối với cách mà các địch thủ của họ đã phơi bày họ ra công khai, thì đó là một điểm nghi vấn. Thế nhưng rõ ràng việc quyết định vạch trần và trừng phạt họ là một động thái chính trị được ủng hộ bởi những nhà cải cách, bao gồm Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đó và phe nhóm của ông, những người mưu toan tạo lập những phẩm chất như là người chiến sĩ trên mặt trận chống tham nhũng.

Thực vậy, ngay sau khi Đại hội kết thúc và ông Dũng trở thành Thủ tướng, ông đã lệnh cho bộ công an hãy đẩy nhanh các cuộc điều tra của mình trong số các vụ án tham nhũng ở cấp cao trong đảng và các giới chức nhà nước. Ông cũng yêu cầu giới truyền thông hãy giúp chính phủ trừ tận gốc nạn tham nhũng.

Điều đó hoàn toàn là chính đáng và tốt đẹp và nó đã được khen ngợi rộng rãi bởi cộng đồng quốc tế. Và nó cũng được sự ủng hộ mạnh mẽ của công chúng, những người đã bị thu hút mối quan tâm vào vụ PMU-18 và cái cách mà cơ quan này bị phát hiện về tình trạng gia đình trị tràn lan trong việc bổ nhiệm bộ máy nhân viên trong đơn vị - trong đó chỉ lần lượt xác nhận những mối hoài nghi tệ hại nhất trước công chúng về tầm quan trọng của những mối quan hệ gia đình, chứ không phải là năng lực, trong việc kiếm được sự thăng tiến trong đảng. Và nó làm người ta ngạc nhiên khi có việc báo chí quốc gia phát hiện và tiết lộ ra những vụ việc đó như là hiện tượng giàu có không thể giải thích được của các quan chức PMU-18 và cách mà hệ thống nhân sự của đảng đã không chặn đứng - và trong một số trường hợp còn khuyến khích - con đường đi tới của các quan chức giàu có và bất lương này.

Những tiết lộ gây sửng sốt này là một mối đe doạ rõ ràng và hiện hữu đối với khối bảo thủ đang vượt trội trong đảng và đối với toàn bộ các quan chức chính phủ nào nhờ cậy vào những mối liên hệ, các của đút lót, những thỏa thuận thân tình, những thăng tiến dựa vào người thân quen và những sở thích khác.

Nếu như các điều tra viên cảnh sát dù muốn hay không cũng được phép bắt đầu tiết lộ thông tin cho giới báo chí về các hành động tham nhũng, thì hầu hết các đảng viên sẽ gặp nguy hiểm. Đã có biểu hiện lo lắng. Đã có sự tức giận.

Theo truyền thống, sẽ hoàn toàn thuận lợi khi vạch mặt các đảng viên có chức vụ bậc trung nào đó nếu như họ phạm tội theo một cách không thích đáng và nếu như đảng quyết định là họ có thể phải bị loại trừ; nhưng quyết định thường được thực hiện trong nội bộ đảng trước khi các quan chức này bị lộ diện.

Và chưa bao giờ, dưới bất cứ tình huống nào, có các uỷ viên trung ương đảng hay các bộ trưởng bị vạch trần hành động tội phạm mà không có sự phê chuẩn của Bộ Chính trị. Vụ PMU-18 đã phá vỡ hệ thống chuẩn mực đó.

Khi không có việc tiếp nhận phê chuẩn ban đầu từ ban lãnh đạo đảng, hai điều tra viên chủ chốt, tướng Phạm Xuân Quắc, người lãnh đạo một trong những cơ quan điều tra của bộ nội vụ, và một trong các thuộc cấp của ông, thượng tá Đinh Văn Huynh, đã cung cấp thông tin cho báo chí.

Các nhà báo có vị trí quan trọng nhận được tin mật về mưu đồ trong PMU-18 là Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải, là các phó biên tập (?) của hai tờ báo có số ấn bản lớn nhất và được đánh giá cao nhất, là tờ Thanh Niên và Tuổi trẻ.

Nhóm bốn người này - hai nhà báo và hai điều tra viên - là những người đã phải nhận sự trừng phạt vào tuần trước khi Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án họ tội "lạm dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích quốc gia" theo Điều 258 của Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Tội thực sự của họ, tất nhiên, là đã đi theo cái chuẩn mực khác với nguyên tắc không được vạch mặt các thành viên cao cấp của đảng một khi không nhận được sự phê chuẩn trước tiên từ giới lãnh đạo hàng đầu, và hơn nữa, là về việc họ đã để mình bị cuốn vào trong cuộc đấu đá nội bộ của đảng, vì vậy mà họ đã trở thành những thứ công cụ để hạ bệ những nhà lãnh đạo nào đó và theo cách đó cho phép những nhân vật khác tiến tới.

Dĩ nhiên, điều đáng khiển trách thuộc về cả hai phe phái. Tướng Quắc, người tiết lộ thông tin hàng đầu, trước đó đã từng hy vọng sẽ được tiến cử vào một vị trí trong ban chấp hành trung ương năm 2006, thế nhưng sau đó ông đã bị người ta qua mặt để hỗ trợ những người khác trong bộ công an và vì thế ông đã tiết lộ những thông tin mà những tin ấy đã không có lợi cho các đối thủ của ông.

Theo Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, giám đốc Chương trình Đông Dương của trường Đại học George Mason, Hòa Kỳ, thì: "Toàn bộ mối quan hệ này phản ánh một cuộc đấu đá nội bộ bên trong bộ an ninh [Bộ Nội vụ]."

Tuy nhiên, không một ai, thậm chí cả TT Dũng, nghi ngờ rằng thực sự có tình trạng tham nhũng tràn lan bên trong cơ quan PMU-18 và rằng việc để lộ ra vục này đã giúp diệt trừ nạn tham nhũng. Và bởi có điều đó, nên ban lãnh đạo đã phải để cho thời gian trôi đi trước khi họ có thể phát động chiến dịch "trả nợ" chống lại những người làm rò rỉ thông tin và các nhà báo hàng đầu là những người đã phá vỡ hệ thống chuẩn mực ấy.

Trong khoảng thời gian đó, rất nhiều nhà báo đã bị triệu tập để chất vấn về các nguồn tin của họ liên quan tới chuyện PMU-18, những người bên trong đảng đã nói rằng những cuộc đấu đá dữ dội đã tiếp liền sau về việc những ai dính líu trong chuyện tiết lộ nên được trừng phạt ra sao.

Sự việc đã diễn ra mà không cần phải giải thích rằng giới bảo thủ, những người vẫn đang còn nắm giữ vai trò chính yếu bên trong đảng, đã chiến thắng và rằng bất chấp sự phản đối mang tính cá nhân của TT Dũng trước động thái đó, một quyết định đã đươc thông qua để khởi tố những người đã tiết lộ vụ bê bối.

Đương nhiên, thực tế là ông trùm của đảng, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, trong tư cách cá nhân đã bị lúng túng ngượng nghịu bởi việc này, vì con rể của ông là Đặng Hoàng Hải đã làm việc cho cơ quan PMU-18, nghĩa là một số hành động chống lại những người để rò rỉ thông tin là không thể tránh được.

Điều đó nói lên rằng, quy mô của hành động đó đã làm kinh ngạc nhiều người, đặc biệt là thời hạn phạt tù hai năm được đưa ra cho ông Nguyễn Việt Chiến, nhà báo kỳ cựu rất được ưa thích. Khi ông Chiến nói lời cuối tại phiên xử tuần trước, phát biểu của ông đã được thúc đẩy không phải bởi làm lợi cho cá nhân, mà bởi ước muốn "để chiến đấu với tham nhũng." Tự biện hộ rằng mình vô tội, ông nói với quan tòa: "Thông tin được sử dụng trong các bài báo của tôi là được cung cấp bởi các sĩ quan công an."

Theo Giáo sư Hùng: "Hai nhà báo đã có được những tin tức từ các nguồn của chính phủ. Và khi các quan chức liên lạc với các nhà báo để công bố những thông tin nào đó, thì hầu như không thể có chuyện các nhà báo sẽ từ chối."

Những lý lẽ ấy từ chính quyền đã làm cho các bị cáo trở thành những người không tốt. Điều đó cũng đã không đem tới bất cứ sự tốt lành nào đối với những nhà báo khác, những người đã phản đối những vụ bắt giữ các đồng nghiệp của mình; hành động đó đơn thuần làm mất chiếc thẻ nhà báo của họ. Và điều này đã đi xa hơn bằng việc làm khích động mạnh lòng phẩn nộ cực độ trong công chúng.

Tờ Tuổi Trẻ, với việc gọi các vụ bắt giữ là "một hành động nhạo báng công lý," đã cho biết rằng họ bị ngập tràn các cuộc điện thoại, thư điện tử và thư tín từ những công dân phản đối hành động của chính quyền - số lượng nhiều nhất mà họ nhận được trong suốt 33 năm làm báo.

Thế nhưng trước khi tuyên bố bản án vào tuần trước, Chánh án Trần Văn Vỹ đã quả quyết rằng ông Chiến đã cho công bố những thông tin bịa đặt "làm tổn hại uy tín của các cán bộ cao cấp, kích động người dân có một sự đánh giá tiêu cực đối với các vị lãnh đạo cao cấp của nhà nước."

Tìm cách để chặn đứng những sự đánh giá tiêu cực nổi lên,] Ban Tư tưởng và Văn hóa của đảng [Ban Tuyên giáo] đã ra lệnh cho tất cả các cơ quan truyền thông phải hạn chế các bài tường thuật của họ về các vụ bắt giữ và sẽ trừng phạt bất cứ nhân viên nào không tuân theo chỉ thị (điều này đã dẫn đến kết quả là ông Huỳnh Kim Sánh đã bị buộc phải rời khỏi vị trí của mình trong vai trò Tổng thư ký báo Thanh Niên và ông Bùi Thanh, phó tổng biên tập tờ Tuổi Trẻ, đã bị cách chức, cùng với Tổng thư ký Hoàng Hải Vân(?).

Theo ông Nguyễn Trần Bạt, chủ tịch Tập đoàn Tư vấn Investconsult Group, một trong những công ty tư vấn thương mại lớn nhất nước này: "Rất khó hiểu khi chính quyền cho bắt và bỏ tù những người từng được ca ngợi về hành động vạch mặt tham nhũng."

Người ta được biết rằng TT Dũng đã liên lạc và trong chốn riêng tư đã diễn tả hành động cảm thông với các chủ bút đang có hành động phản kháng; thế nhưng rõ ràng ít có khả năng ông ta có thể làm được điều gì. Các nhà báo Việt Nam giờ đây trên thực tế đã bị ngăn cấm tiếp nhận thông tin về những trường hợp tham nhũng trong số các đảng viên.

Một uỷ viên công tố, khi thẩm vấn ông Chiến, đã nói rằng tất cả các cuộc phỏng vấn với các nguồn tin của cảnh sát là bất hợp pháp theo luật báo chí Việt Nam bởi vì "các nhà báo không được phép tiếp nhận thông tin từ các nguồn tin không có thẩm quyền."

Theo Tổ chức Nhà báo Không Biên giới: "Hậu quả của phiên tòa này là một bước lùi khủng khiếp đối với nghề phóng viên điều tra tại Việt Nam. Cơ sở còn yếu ớt cho một nền báo chí có khả năng đóng vai trò thử thách chính quyền được thiết lập đã bị lung lay một cách trầm trọng."

Ngày nay, thậm chí các nhà nghiên cứu ngoại quốc ở Việt Nam đã tỏ ra thận trọng trước việc bày tỏ công khai các quan điểm của mình do lo sợ bị trả thù, thường là dưới dạng từ chối cấp thị thực nhập cảnh. Với thái độ trơ tráo, các quan chức của đảng đã siết chặt hàng ngũ và lặp lại rằng tại Việt Nam, vai trò của truyền thông do nhà nước nắm giữ là bảo vệ đảng và truyền đạt những ý muốn của nó tới dân chúng.

Ghi nhớ rằng vào ngày 20 tháng Sáu năm nay, thứ trưởng bộ văn hóa [Thông tin Truyền Thông] Đỗ Quý Doãn đã nói rằng báo chí trong nước là một lực lượng đấu tranh với "những tư tưởng sai trái và các kế hoạch của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị, và để bảo về những tư tưởng, đường lối và sự lãnh đạo trên nguyên tắc cơ bản của đảng." Không thể vạch trần những hành động bất lương bên trong ban lãnh đạo và làm mất mặt đảng.

Hành động đàn áp thẳng tay, xảy ra cùng lúc với một biện pháp thô bạo chống lại cộng đồng Thiên chúa giáo và các nhà hoạt động tranh đấu cho người lao động và và thực tế với bất cứ những tiếng nói nào mới xuất hiện chống lại đường lối của đảng, đã phản ánh một niềm hân hoan đối với những nhân vật bảo thủ và một bước thụt lùi ghê gớm cho cuộc vận động của những nhà cải cách.

TT Dũng đã phải gia nhập vào cuộc đàn áp khốc liệt sau những phê phán dai dẳng của giới bảo thủ đối với thái độ khoan nhượng của chính phủ trước một bộ máy truyền thông cởi mở hơn, cũng như sự nhấn mạnh của ông Dũng vào tăng trưởng kinh tế nhanh chóng bất chấp tình trạng lạm phát cao đã làm xa cách rất nhiều cơ sở ở nông thôn của đảng.

Được nhìn nhận ngày càng rõ như là nhân vật vừa mềm dẻo về vấn đề an ninh vừa rất hăm hở nhượng bộ trước những đòi hỏi của nước ngoài, ông Dũng đang gặp nguy hiểm trước tình trạng bị lu mờ dần trong đảng bên cạnh nhân vật quyền lực đang lên cao Trương Tấn Sang, một ủy viên Bộ chính trị người miền Nam đứng đầu Ban bí thư, bộ máy điều hành hoạt động hàng ngày của đảng. Ông Sang đang lãnh đạo cuộc đàn áp thẳng tay đối với giới báo chí và đã thành công trong việc lôi các nhà báo và những nhà bất đồng chính kiến khác ra tòa, viện dẫn sự cần thiết giữ ổn định trong giai đoạn nền kinh tế đang gặp khó khăn.

Mới đây ông lưu ý: "Việc bố trí những phiên xử án chính trị này đã hoàn tất mức độ nào đó thể hiện sự thành công trong việc dạy cho những người này một bài học và như vậy trên thực tế làm tiêu tan các hoạt động chính trị đối lập trong lúc chúng vẫn còn trong thời kỳ phôi thai."

Trong lúc ngôi sao của ông Sang đang lên, cùng với những nhân vật kiên định lập trường như ông Lê Hồng Anh và ông Hồ Đức Việt, thì ngôi sao chiếu mệnh của TT Dũng đã bắt đầu bị lu mờ. Những anh chàng hung tợn này không phải lãnh trách nhiệm trước những người bị xử tù giờ đây đang tỏ ra có uy thế. Sự nổi lên của họ và bước thụt lùi đối với những nhà cải cách đã là bằng chứng trong cuộc đụng độ bên trong để tiếp tục tìm cách giải quyết tình trạng suy sụp kinh tế nặng nề của đất nước và giờ đây nó có thể dẫn đến những cuộc ẩu đả lớn hơn ở cấp cao nhất nếu như cơn suy thoái còn tiếp diễn.

Như một chuyên gia Việt Nam đã nói: "Phiên tòa tuần trước không phải về hai nhà báo mà là về cái cách họ, nằm trong số nhiều nhà báo khác, rốt cục đã bị lợi dụng trong những cuộc đấu đá phe phái."

Ông nhận xét tiếp: "Khó mà nói được người nào đứng về phe người nào, và liệu chúng ta có thể dễ dàng gắn nhãn cho nhóm này là "bảo thủ" hay nhóm kia là "có chừng mực" hay không khi những cuộc đấu đá phe phái này tỏ ra ít được điều khiển bởi hệ tư tưởng và có vẻ nhiều hơn là một sự pha trộn của trò tranh giành quyền lực và lợi ích riêng về kinh tế."

Thêm vào đó, Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam có danh tiếng thuộc Viện Quốc phòng Úc nhận xét: "Tính hợp pháp của nhà nước độc đảng ở Việt Nam phần nhiều là dựa vào 'tính hợp pháp theo lối trình diễn,' đó là, sự thành công trong việc thực hiện tăng trưởng kinh tế cho xã hội nói chung."

Thiếu vắng thứ tăng trưởng đó, nỗi oán hận của công chúng trước những biện pháp xử trí tàn bạo tựa như những bản án vào tuần trước không nghi ngờ gì nữa sẽ gia tăng và sẽ ngày càng đe doạ tới tính hợp pháp của đảng.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Nội dung Quyết Nghị Quốc hội Châu Âu về vấn đề Nhân quyền




Quyết Nghị của Quốc hội Châu Âu về Hiệp ước đối tác và hợp tác mới giữa Liên Âu - Việt Nam và vấn đề Nhân quyền

QUỐC HỘI CHÂU ÂU,

- chiếu theo các Nghị Quyết trước đây về vấn đề Việt Nam,

- chiếu theo Hiệp ước Hợp tác năm 1995 giữa Liên hiệp Châu Âu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,

- chiếu theo Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết năm 1982,

- chiếu theo điều 108, chương 5, Quy chế Liên hiệp Châu Âu,

A. Vì rằng, cuộc thảo luận lần thứ hai giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 20 và 21.10.2008,

B. Vì rằng, cuộc điều trần về Việt Nam , Lào và Cam Bốt do Phân ban Nhân quyền tổ chức hôm 25.8.2008,

C. Vì rằng, cuộc họp Đối thoại nhân quyền giữa Ba vị chủ tịch Liên hiệp Châu Âu [tiền nhiệm, đương nhiệm và sắp tới] với Việt Nam ấn định vào tháng 12.2008,

D. Vì rằng, Điều 1 trong Hiệp ước Hợp tác giữa Liên hiệp Châu Âu và CHXHCNVN ấn định rằng "tôn trọng nhân quyền và những nguyên tắc dân chủ là nền tẳng cho việc hợp tác giữa hai bên là điều kiện của hiệp ước và cũng là yếu tố chủ yếu của Hiệp ước",

E. Vì rằng, tự do hội họp bị hạn chế nghiêm trọng : tháng 9.2008 chính quyền Việt Nam phát động cuộc đàn áp khắc nghiệt nhất trong nhiều thập niên qua đối với người Công giáo biểu tình ôn hòa tham gia cầu nguyện tại Hà Nội để đòi đất đai giáo sản bị chính quyền tịch thu,

F. Vì rằng, tự do báo chí bị hạn chế nghiêm trọng : trong năm 2008 nhiều ký giả Việt Nam bị bắt hay bị trừng phạt vì tường thuật nạn tham nhũng của giới quan chức, và, ngày 19.9.2008, Trưởng phòng Mỹ liên xã (AP), ông Ben Stocking bị bắt, bị công an đánh đập khi ông theo dõi cuộc biểu tình ôn hòa của người Công giáo Việt Nam tại Hà Nội,

G. Vì rằng, các dân tộc ít người miền thượng du Bắc Việt và Cao nguyên Trung phần luôn luôn là nạn nhân bị phân biệt đối xử, bị tịch thu đất đai, và bị vi phạm quyền tự do tôn giáo và văn hóa; vì rằng các tổ chức phi chính phủ độc lập cũng như các nhà báo không được tự do đến các vùng cao nguyên để chứng kiến thực trạng của những người Thượng, và đặc biệt thực trạng của những người Thượng hồi hương từ Cam Bốt; vì rằng hơn 300 người Thượng đã bị kết án tù từ năm 2001 do tham gia những hoạt động chính trị và tôn giáo ôn hòa,

H. Vì rằng, mặc Cộng đồng thế giới không ngớt kêu gọi liên tục, nhà lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ (79 tuổi), đoạt Giải Nhân quyền Rafto năm 2006, từng nhiều lần bị bắt bỏ tù từ năm 1982 và hiện nay vẫn còn tiếp tục bị quản chế,

I. Vì rằng, chính quyền Việt Nam vẫn chưa chịu công nhận quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tổ chức Phật giáo lớn nhất tại Việt Nam.

J. Vì rằng, Việt Nam thiết lập những điều luật hạn chế quyền tự do vào mạng internet, thông qua việc kiểm tra và kiểm soát nội dung văn bản, và đã bắt giam những "nhà ly khai sử dụng Internet" với lý do dùng internet để phổ biến các quan điểm nhân quyền và dân chủ hay thảo luận dân chủ; vì rằng, ngày 10.9.2008, ông Nguyễn Hoàng Hải, nhà báo sử dụng mạng Blog cũng là người bảo vệ nhân quyền, được biết qua bút hiệu Điếu Cày, đã bị kết án tù,

K. Vì rằng, những thành viên thuộc dân tộc ít người Khmer (Khmer Krom) ở miền Nam Việt Nam, bị đàn áp tôn giáo, bị tịch thu đất đai, chính quyền còn bắt hoàn tục khoảng 20 Tăng sĩ Phật giáo Khmer krom vì họ tham gia cuộc biểu tình ôn hòa tháng 2.2007 kêu gọi cho tự do tôn giáo, trong số này năm người bị kết án tù, chính quyền Việt Nam quản chế Tăng sĩ Tim Sakhorn sau khi mãn hạn tù tháng 5.2008, và chính quyền còn bạo hành đối với nông dân khmers kroms khiếu kiện việc tranh cãi đất đai,

QUỐC HỘI CHÂU ÂU

1. Nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại nhân quyền giữa Liên hiệp Châu Âu với Việt Nam phải đưa tới những cải thiện xác thực tại Việt Nam; yêu cầu Hội đồng Châu Âu và Ủy hội Châu Âu phải định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam, cần xét đến Điều 1 trong Hiệp ước Hợp tác ký kết năm 1995, qua đó công cuộc hợp tác đặt nền tảng trên sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền cơ bản;

2. Kêu gọi Ủy hội Châu Âu thiết lập các tiêu chuẩn minh bạch nhằm lượng định các dự án phát triển hiện hành tại Việt Nam để bảo đảm sự tương hợp với điều khoản liên quan đến nhân quyền và dân chủ;

3. Kêu gọi Ủy hội Châu Âu và Hội đồng Châu Âu, trong khuôn khổ thương thuyết đang diễn ra cho Hiệp ước đối tác và hợp tác mới, sẽ phải có một điều khoản rõ ràng, không nhập nhằng về nhân quyền và dân chủ phối hợp với một công cụ nhằm bảo đảm sự thực hiện điều khoản này, cũng như đề xuất với nhà cầm quyền Việt Nam nhu cầu chấm dứt hiện trạng vi phạm quy mô dân chủ và nhân quyền trước khi hoàn thành dạng bản Hiệp ước, và

ĐẶC BIỆT YÊU SÁCH CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM :

- là thành viên Hội đồng Bảo an LHQ, hợp tác tích cực với cơ cấu Nhân quyền LHQ, bằng cách thỉnh mời đến Việt Nam Báo cáo viên Đặc nhiệm Bất bao dung Tôn giáo, mà chuyến điều tra cuối cùng tại Việt Nam thực hiện năm 1998, và Tổ Hành động Chống bắt bớ trái phép, mà chuyến điều tra cuối cùng tại Việt Nam thực hiện năm 1994; cũng như cho phép các viên chức LHQ, các Báo cáo viên đặc biệt được tự do thăm viếng mọi miền, kể cả miền Thượng du phía Bắc và Cao nguyên Trung phần, để gặp gỡ trao đổi riêng tư với những tù nhân chính trị và tôn giáo, cũng như với những người sắc tộc xin tị nạn từ Cam Bốt trở về Việt Nam;

- trả tự do tức khắc cho mọi cá nhân bị tù đày hay giam giữ vì lý do biểu tỏ ôn hòa chính kiến hay tôn giáo, đặc biệt là nhóm 300 người thượng Thiên chúa giáo, cũng như các Tăng sĩ Phật giáo khmers kroms, các nhà đấu tranh cho dân chủ, các Dân oan khiếu kiện quyền đất đai, các nhà ly khai sử dụng Internet, các nhà lãnh đạo công đoàn, các thành viên giáo xứ Công giáo, các tín hữu Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài;

- chấm dứt tức khắc việc quản chế Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo tối cao Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và Tăng sĩ Phật giáo khmer krom, Tim Sakhorn, được trả tự do tháng 5.2008 nhưng vẫn còn bị quản chế;

- cho phép các tổ chức tôn giáo độc lập được quyền sinh hoạt tôn giáo mà không bị chính quyền can dự, và để cho các tổ chức này được quyền tự do đăng ký trước các cơ quan công quyền nếu họ yêu sách; hoàn trả các giáo sản và chùa viện bị chính quyền Việt Nam tịch thu và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất;

- bãi bỏ các luật pháp Việt Nam nhằm kết tội các nhà bất đồng chính kiến hay các hoạt động tôn giáo căn cứ theo khái niệm mơ hồ xâm phạm "an ninh quốc gia", để các luật pháp này không áp dụng cho những cá nhân sử dụng các quyền cơ bản của họ về tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do tín ngưỡng;

- chấm dứt sự kiểm duyệt và kiểm soát của chính quyền Việt Nam đối với các cơ quan truyền thông quốc gia, kể cả mạng lưới Internet và điện tử, và cho phép phát hành nhật báo và tạp san tư nhân, độc lập;

4. Ủy nhiệm Chủ tịch Quốc hội Châu Âu chuyển giao Quyết Nghị này đến Hội đồng Châu Âu, Ủy hội Châu Âu, cũng như đến các Chính phủ thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, Tổng Thư ký LHQ, Cao ủy Nhân quyền LHQ cũng như Chính phủ và Quốc hội Việt Nam.

(Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam dịch từ bản Anh và Pháp ngữ)

Hai Vụ Án, Một Vấn Đề




Trần Hùng

Chế độ cộng sản Việt Nam xử dụng nhiều thủ đoạn để cai trị người dân. Lúc trước họ dùng hình thức hạ đẳng là hộ khẩu và tem phiếu để nắm bao tử, khống chế con người. Kèm theo đó là hệ thống nhà tù dầy đặc khắp nơi. Chính sách đó đã kéo dài trong nhiều thập niên. Sau này, khi buộc phải mở cửa làm ăn với thế giới bên ngoài, không còn có thể xử dụng những biện pháp trấn áp quá lộ liễu và thô bạo nữa, thì hệ thống toà án được coi là công cụ thích hợp. Nhà nước độc tài không ngần ngại xử dụng luật rừng để triệt hạ những người đối kháng, hoặc trong việc tranh chấp nội bộ. Những vụ xử án này rất nhiều, năm nào, tháng nào cũng có. Liên tiếp trong 2 tháng 9 và 10 vừa qua, có 2 vụ xử án đã khiến cho dư luận hết sức quan tâm. Hai vụ xử này đã đưa đến cùng một hệ quả là CSVN bị phơi bầy trước công luận những nứt rạn có tính chất căn bản của chế độ.

Ông Nguyễn Văn Hải, tức Hoàng Hải, tức blogger Điếu Cày

Vụ án thứ nhất diễn ra vào đầu tháng 9. Ông Nguyễn Văn Hải, tức Hoàng Hải, tức blogger Điếu Cày bị xử về tội trốn thuế. Bản án dành cho ông là 2 năm rưỡi tù giam và 900 triệu đồng tiền phạt. Tội danh trốn thuế được nêu lên trên các cơ quan truyền thông quốc doanh, nhưng không ai tin vào điều này. Trước hết vì việc xử án được dàn dựng quá thô sơ và lộ liễu, không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào. Ngoài ra, quá trình đấu tranh vì Hoàng Sa, Trường Sa của ông Hải cho thấy, việc xử án chỉ nhằm mục đích bịt miệng một tiếng nói chống ngoại xâm. Tóm tắt vụ này, luật sư Lê Công Định đã nói: "Quá bất công. Đó là một bản án bỏ túi mà tôi nghĩ là đã có một sự chuẩn bị trước".

Hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải

Vụ án thứ hai được thực hiện vào giữa tháng 10. Trong số 4 người bị đưa ra xét xử có 2 nhà báo của tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ. Những người này liên quan đến vụ tham nhũng nổi tiếng PMU18 xẩy ra từ hơn 2 năm nay. Vụ án này có nhiều tình tiết bất ngờ. Những cán bộ công an thuộc ban chuyên án và 2 nhà báo từng tường thuật vụ án, nay lại ngồi vào hàng ghế bị cáo… Tất cả giống như một trò xiếc, mà bàn tay phù thủy nằm ở thượng tầng lãnh đạo đảng cộng sản.

Qua 2 vụ xét xử nói trên, người ta càng nhìn thấy rõ thêm những điểm yếu của chế độ, đặc biệt là 5 vấn đề như sau.

Thứ nhất, người ta thấy rõ hơn tình trạng tranh chấp trong hàng ngũ thượng tầng lãnh đạo đảng cộng sản hoàn toàn là vì quyền lợi. Những diễn biến bất thường của vụ tham nhũng PMU18 trong hai năm trời qua cho thấy cả 2 phe bênh và chống đều tung hết chưởng lực ra để đọ sức với nhau, mà kết quả ngày hôm nay chưa phải là hồi chung cuộc. Khi thiếu tướng công an Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục C14, đảm nhiệm chức Trưởng ban chuyên án PMU18 và tuyên bố rằng "đây là vụ án đánh để đời, trước khi về hưu" thì mọi người đều hiểu rằng sự việc không chỉ nằm trong phạm vi cấp bộ, cấp sở với số tiền cá độ vài triệu đô la, mà là cả một đường dây xuyên suốt từ thượng tầng đến nhiều ngõ ngách trong mọi bộ phận của chế độ. Mức độ đấu đá cũng gay gắt hơn, người ta xử dụng những từ ngữ nặng nề để chửi nhau, và đòi triệt hạ nhau bằng cách làm mất chức, mất quyền, và thậm chí cả mất mạng.

Thứ hai, qua vụ xử án này, CSVN đã làm cho tất cả những lời lẽ tuyên truyền của họ về việc diệt trừ tham nhũng trở thành một trò hề. Số người ít ỏi còn hy vọng về một thiện chí không hề có của đảng cộng sản đã được thức tỉnh. Trước đây, nhà nước đã nhiều lần cảnh báo về tệ nạn tham nhũng, đã nhiều lần kêu gọi chống tham nhũng, và đã nhiều lần hứa hẹn diệt trừ tham nhũng, nay chỉ qua vụ án này, tất cả những nỗ lực nói trên đều trở thành vô nghĩa. Có thể nói rằng, qua vụ xử án này, chính đảng cộng sản đã thành công trong việc làm cho "tham nhũng Việt Nam vang danh thế giới".

Thứ ba, bản chất tay sai của chế độ cũng đã được chính CSVN tự lột trần trước dư luận trong và ngoài nước. Từ trước đến nay, người ta đã nói đến công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, đã nói đến những hiệp ước phân định biên giới và lãnh hải làm thiệt hại lãnh thổ Việt Nam, đã nói đến thái độ khiếp nhược của CSVN trước chính sách xâm lấn của Trung cộng, người ta cũng từng căm phẫn trước việc công an đàn áp những cuộc biểu tình của thanh niên sinh viên yêu nước đòi Hoàng Sa và Trường Sa. Nay với bản án nhằm triệt hạ một người luôn thiết tha bảo vệ đất đai của cha ông để lại, CSVN đã tự khắc sâu nhãn hiệu tay sai, bán nước lên trên bộ mặt của mình.

Thứ tư, chưa bao giờ CSVN lại gặp những phản ứng bất thuận lợi của quốc tế như trong 2 cuộc xử án này. Về vụ Điếu Cầy, các cơ quan truyền thông uy tín quốc tế như AP, AFP, BBC, RFA, VOA, RFI, Ottawa Citizen, Bangkok Post… trong nhiều ngày đã liên tục đưa tin, bình luận. Báo điện tử iafrica.com bên Nam Phi cũng có bài về Điếu Cày. Nhiều tổ chức quốc tế tuyên bố ủng hộ Điếu Cày. Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) rất nhiều lần lên tiếng kêu gọi trả tự do cho Điếu Cày. Tại đại học Harvard có dự án Global Voices Online nói về Điếu Cày. Tổ chức "International Freedom of Expression Exchange" chuyên tranh đấu cho tự do ngôn luận, đã lên tiếng về ông…

Sau vụ xử án 2 nhà báo, chỉ trong vòng một ngày đã có đến 165 bản tin thế giới nói về tham nhũng ở Việt Nam. Từ các hãng tin nổi tiếng như Reuters, AFP, DPA, AP, BBC News, cho đến báo chí từ Á sang Phi như: Manila Times, News Asia, South Africa. Ngay cả giới tài chánh cũng để ý đến như: Interactive Investor, Australian Broadcasting Corporation, EU Business, Financial Times… với đầy đủ các ngôn ngữ chính quốc tế như: Anh, Pháp, Ý, Đức, Thụy Điển, Na Uy, Hoà Lan, Ban Lan, Nga, Tiệp, Rumania, Đan Mạch, Tây Ban Nha… Liên Hiệp Châu Âu tỏ ý tiếc về bản án. Tổ chức Ân Xá Quốc Tế yêu cầu trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho nhà báo Nguyễn Việt Chiến. Bản thông cáo báo chí của sứ quán Mỹ tại Hà Nội viết: "Hoa Kỳ thất vọng với kết quả vụ xử". Tham tán Ngoại giao Thụy Điển tại Hà Nội phát biểu rằng: "Chúng tôi quan ngại về kết quả vụ xử này và cho rằng nó sẽ phát đi các thông điệp trái ngược về cam kết chống tham nhũng của chính phủ Việt Nam...

Thứ năm, vụ xử án đã tạo sự căm phẫn ngay trong hàng ngũ những người đang phục vụ cho chế độ, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông. Chính nhà nước cũng đã cảm nhận được sự căm phẫn này nên đã phải đề ra nhiều biện pháp bất thường để ngăn chận. Nhiều tổng biên tập đã được chỉ thị phải canh chừng gắt gao cán bộ của báo mình để ngăn ngừa những trường hợp "xé rào", "quá độ" như báo Thanh Niên và báo Tuổi Trẻ đã lên tiếng bênh vực cho Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải, phê phán việc làm của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, việc ngăn ngừa không mang lại hiệu quả. Việc hàng mấy trăm tờ báo xếp hàng đi theo lề phải, chỉ loan tải 1 bản tin ngắn ngủi một cách bất thường y như nhau, đã để lộ rõ bàn tay dàn dựng của nhà nước, và một lần nữa tô đậm chức năng bồi bút của nền báo chí quốc doanh. Trong khi đó, rất nhiều cán bộ vẫn tìm cách phổ biến quan điểm phản kháng của mình trên những phương tiện truyền thông ngoài luồng như báo điện tử, blogs, hay báo đài ngoại quốc. Trong thời đại truyền thông điện tử ngày nay, những quan điểm này cũng có khả năng tác động đến nhiều người dân trong nước, và là một thách thức lớn cho chế độ.

Trong tất cả những vấn nạn nêu trên, việc hàng ngũ cán bộ truyền thông quốc doanh, từng được coi là một trong những thành trì căn bản của chế độ, nay cũng có những vết rạn nứt trầm trọng, là điều mà chế độ đặc biệt lo âu hơn hết. Chính việc đàn áp trắng trợn những người có tấm lòng với quê cha đất tổ, những người có thiện tâm diệt trừ tham nhũng làm sạch xã hội, đã khiến cho nhiều cán bộ nhận thức được bộ mặt dối trá của chế độ, và nhận định rằng "nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do lỗi của cả hệ thống chính trị". Đồng thời họ kêu gọi "đã đến lúc cả nước phải nghĩ đến việc thay đổi guồng máy". Đó không phải là những lời kêu gọi của bất cứ một thế lực nào từ bên ngoài, mà nó được đăng ngay trên báo Thanh Niên của đảng!. Hai vụ xử án vừa qua đã giúp nhiều người nhìn ra cốt lõi của vấn đề.

Chỉ đạo biến một phiên tòa “bất thường” thành “bình thường”




Hà Nội, (NV) - Khi tường thuật về phiên xử hai sĩ quan cảnh sát của công an CSVN (Thiếu Tướng Phạm Xuân Quắc, Thượng Tá Ðinh Văn Huynh) và hai nhà báo (Nguyễn Văn Hải - phóng viên báo Tuổi Trẻ, Nguyễn Việt Chiến - phóng viên báo Thanh Niên), các cơ quan truyền thông trong nước phải nhấn mạnh cả bốn bị cáo “nguyên” là sĩ quan công an và “nguyên” là nhà báo. Không được gọi những bị cáo này một cách chung chung là sĩ quan công an và nhà báo!

Mặt khác, trong tuyên truyền, phải chú trọng giải thích, việc thay đổi tội danh của bốn bị cáo, (từ “lợi dụng quyền hạn và chức vụ khi thi hành công vụ” đối với hai sĩ quan cảnh sát thành “cố ý làm lộ bí mật công tác” và từ “lợi dụng quyền hạn và chức vụ khi thi hành công vụ” đối với hai nhà báo thành “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”) không phải là “đặc quyền, đặc lợi” mà vì đã... xem xét những cống hiến của cả bốn.

Hệ thống truyền thông của chính quyền CSVN còn được yêu cầu phải: “tuyên truyền dân chủ, công khai, công bằng, khách quan, đúng người, đúng việc” nhưng “không được bình luận”. Lãnh đạo các cơ quan truyền thông còn được nhắc nhở phải “đề phòng những vấn đề phức tạp có thể diễn ra quanh phiên tòa và phải coi đây như một phiên tòa bình thường”.

Những thông tin kể trên là nội dung cuộc họp giao ban giữa Bộ Thông Tin-Truyền Thông CSVN với lãnh đạo các cơ quan truyền thông trong nước hôm 7 tháng 10, ở Hà Nội. Ðáng lưu ý rằng, đây không phải là ý kiến của Bộ Thông Tin-Truyền Thông CSVN, bộ này giải thích đó là “chỉ đạo” của Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng CSVN trong cuộc họp ngày 6 tháng 10 về vụ án này, với các ngành có liên quan, do Tô Huy Rứa, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng chủ trì.

Ngoài những thông tin đã kể, một số nguồn tin trong nước còn tiết lộ, việc cấp giấy phép tham dự phiên xử hai sĩ quan công an và hai nhà báo vào hai ngày 14, 15 tháng 10 sắp tới sẽ không phải do tòa án (theo thông lệ, đúng quy định của pháp luật) mà do an ninh của Bộ Công An đảm trách. Những nguồn tin này khẳng định: Chỉ có 25 cơ quan truyền thông được cấp giấy phép tham dự phiên xử!

Cả bốn bị cáo trong vụ án sắp được đưa ra xét xử tại Hà Nội đều liên quan đến viêỳc điều tra và thông tin về vụ tham nhũng xảy ra tại PMU18 - một cơ quan quản lý các dự àn giao thông được thực hiện bằng tiền viện trợ của nước ngoài. Ông Phạm Xuân Quắc, thiếu tướng công an từng là trưởng ban chuyên an, ông Ðinh Văn Huynh từng là trưởng nhóm chuyên viên điều tra, hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Viết Chiến, mỗi người đã viết khoảng 50 tin, bài về vụ tham nhũng đã xảy ra tại PMU18.

Giới theo dõi tình hình chính trị Việt Nam cho rằng, “chỉ đạo” của Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng là những yêu cầu tùy tiện, vi phạm pháp luật. Về nguyên tắc, việc xác định tội danh phải căn cứ vào hành vi phạm tội, công lý không cho phép dựa vào “cống hiến” để xác định tội danh. “Cống hiến” nếu có chỉ có thể dùng như một yếu tố giảm nhẹ hình phạt. Mặt khác yêu cầu “tuyên truyền dân chủ, công khai, công bằng, khách quan, đúng người, đúng việc” mâu thuẫn với yêu cầu “không được bình luận”. Việc nhắc nhở lãnh đạo các cơ quan truyền thông phải “đề phòng những vấn đề phức tạp có thể diễn ra quanh phiên tòa và phải coi đây như một phiên tòa bình thường”, cho thấy lãnh đạo Ðảng và chính quyền CSVN đang hết sức bối rối về dư luận và lo âu về việc “sút giảm niềm tin”.

Hồi giữa tháng 5, việc khởi tố cả bốn nhân vật nêu trên đã tạo ra sự phẫn nộ trong cả công chúng lẫn cán bộ, đảng viên. Ngay cả hệ thống truyền thông của CSVN cũng phản kháng, kết quả của sự phản kháng này dẫn tới việc một số lãnh đạo của hai tờ Tuổi Trẻ, Thanh Niên bị cách chức, cấm làm báo. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ ký giả cũng như chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã chỉ trích kịch liệt việc làm này. Tất cả những điều đó khiến Ðảng và chính quyền CSVN lúng túng.

Tháng trước, một số blogger đã đưa lên Internet phần ghi âm toàn bộ cuộc họp, do Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng CSVN tổ chức, để một viên trung tướng tên Vũ Hải Triều - phụ trách an ninh của công an CSVN giải trình. Trong buổi giải trình đó, một số cán bộ lãnh đạo Ban Tuyên Giáo các địa phương đã phê phán gay gắt việc lực lượng an ninh của công an CSVN đột ngột khởi tố hai sĩ quan cảnh sát và bắt giữ hai nhà báo. Theo họ, “điều đó khiến cả công chúng lẫn cán bộ, đảng viên không còn tin vào Ðảng, tin vào chính quyền, uy tín của Ðảng và của chính quyền bị sút giảm nghiêm trọng, chưa kể việc làm này còn tạo điều kiện cho các thế lực thù địch, phản động khai thác”. Nhiều cán bộ lãnh đạo Ban Tuyên Giáo các địa phương thú nhận rằng, khi thực hiện công tác tuyên truyền, sự kiện khởi tố, bắt giữ những người liên quan đến việc chống một vụ tham nhũng điển hình, khiến họ không thể giải thích được những thắc mắc liên quan đến nỗ lực chống tham nhũng của giới cầm quyền là thật hay giả (?).Tại sao lại khởi tố cả bốn khi vừa tha bổng Nguyễn Việt Tiến (cựu thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, từng bị khởi tố về ba tội do dính líu trực tiếp vào vụ tham nhũng ở PMU18)? Tại sao lại bắt giữ khi Ðại Hội Phật Giáo Quốc Tế đang diễn ra tại Việt Nam, bất kể thời điểm này có rất nhiều nhà báo nước ngoài?

Giới theo dõi tình hình chính trị Việt Nam nhận định: Trong bối cảnh chính trị và bối cảnh xã hội như hiện nay, mức án dành cho hai sĩ quan cảnh sát và hai nhà báo có thể sẽ rất nhẹ. (G.Ð)

Người Việt Online

CÔNG BÌNH XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM




Trần Duy Nhiên

Công bình xã hội là điều mà truyền thống Việt Nam nâng lên thành một ‘đạo’, như trong câu nói đã biến thành tục ngữ: “Công bằng là đạo người ta ở đời.” Nhà Nước Việt Nam hiện nay cũng ưu tư về vấn đề này nên đề ra chủ trương: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. [20]

Từ nhận định này, thử nhìn lại một số thực trạng trên đất nước.

1. Kinh Tế - Xã Hội.

Ngày 11-09-2006, ông Lê Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, đã phát biểu như sau tại buổi họp báo trong khuôn khổ diễn đàn của Ủy ban Kinh tế APEC:

“Lấy hệ số bất bình đẳng làm trục tung, tăng trưởng kinh tế làm trục hoành thì VN có mức tăng trưởng cao và công bình xã hội tốt nhất APEC”[21]. Nhận định của ông đặt cơ sở trên số liệu. Nhưng những con số cũng có thể đánh lừa mình! Việt Nam có thể tự hào vì mức tăng trưởng kinh tế khoảng 8% và thu nhập bình quân đầu người năm 2006 đã lên đến trên dưới 700UDS…[22]

Tuy nhiên nếu nhìn theo một khía cạnh khác thì lời phấn khởi trên lại làm cho ta lo ngại. Trong kỳ họp APEC, số liệu về thu nhập bình quân đầu người của 21 nước thành viên nêu lên nước cao nhất là Hoa Kỳ với 41.800 USD và nước thấp nhất là Việt Nam với 620 USD.[23] Với tốc độ tăng trưởng 8% so với Hoa Kỳ chỉ tăng trưởng 3,1%, thì Việt Nam cảm thấy hài lòng; mà không để ý là 8% và 3% của bao nhiêu. Và mục tiêu nhắm đến là thu nhập 875 USD vào năm 2010.

Nhưng thử làm một con tính. Vào năm 2010, khi Việt Nam đạt được 875 USD nhờ tốc độ phát triển đều đặn là 8%; thì với tốc độ 3%, Hoa Kỳ sẽ đạt 47.046 UDS. Nghĩa là trong khi người Việt Nam tăng được 230 USD thì người Mỹ tăng 5.346 USD.

Muốn đạt số thu nhập phụ trội đó (5.346) của Hoa Kỳ thì Việt Nam phải giữ tốc độ tăng trường 8% liên tục trong 19 năm nữa kể từ 2010, nghĩa là vào năm 2029 thì người dân Việt Nam mới có thu nhập là 5200 USD. Trong khi đó, với tốc độ 3% thì bấy giờ người dân Mỹ đã lãnh đến 82.500 USD.

25 năm nữa, thế hệ con em sẽ có hai cái nhìn trái ngược nhau: Một là tự hào tuyên bố rằng sau bao nhiêu năm giữ vững tốc độ tăng trưởng vào hàng đầu thế giới thì thu nhập của người Mỹ chỉ còn gấp 15 lần thu nhập người Việt (82.500/5.200), trong khi đó, 25 năm về trước, người Mỹ thu nhập cao hơn người Việt đến 67 lần (41.800/620). Hai là đau đớn thấy rằng 25 năm về trước thu nhập của người VN kém người Mỹ 41.000 USD mỗi năm, mà 25 năm sau người Việt kém người Mỹ đến 77.200 USD. Và tùy theo cách nhìn mà thế hệ con em sẽ ca ngợi hay trách móc thế hệ cha anh mình.

Ngay cả con số 700 USD bình quân đầu người cũng phải nhìn lại theo quan điểm công bình xã hội, để không bỏ qua cái thực trạng là thu nhập của người dân nghèo chỉ có 200 USD. Đối với giới công nhân lao động, thu nhập hàng tháng dưới 800.000 đồng, có khi xuống đến 500.000 đồng. Đối với một số nông thôn nghèo, thì có nơi giá một ngày công là 2.000 đồng, nghĩa là người lao động thu nhập dưới 60.000 đồng/tháng; trái lại, những người ‘ngồi mát ăn bát vàng’ thì xem 7 - 8 triệu hàng tháng là chuyện bình thường. Đấy là chưa kể đến số người thu nhập bất chính hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỉ, mà số này thì không ai có thể thống kê được.

2. Y Tế - Giáo dục.

Y tế và Giáo dục là hai vấn nạn thật lớn liên quan đến từng gia đình trong xã hội Việt Nam và đó là cũng ưu tư lớn nhất của mọi người khi nói đến công bình xã hội. Trong thời bao cấp, nhiều trì trệ về kinh tế xảy ra, chất lượng về chữa trị và giáo dục có thể yếu kém vì thiếu người, thiếu phương tiện, thế nhưng ít ra sự bất công không nổi lên rõ nét. Người giàu và người nghèo đều được đối xử như nhau, nghĩa là người có khả năng trang trải chi phí y tế hay giáo dục cũng không chi trả bao nhiêu, mặc cho Nhà Nước gánh hết. Đây hẳn cũng là một sự bất công của xã hội, vì nếu công bình xã hội không có nghĩa là thu nhập quốc dân được chia bằng cho nhau thì nó cũng không có nghĩa là mọi người phải chi trả hoặc hưởng phúc lợi xã hội bằng như nhau.

Tuy nhiên, cái bất công ấy lồ lộ ra cùng với sự thâm nhập của kinh tế thị trường. Kể từ đấy, Y tế và Giáo Dục trở thành nơi cung cấp hàng hóa dưới dạng dịch vụ. Không phải hiếm thấy cảnh một người vào bệnh viện cần phải giải phẫu nhưng chỉ có thể lên bàn mổ khi bác sĩ cầm được trong tay biên nhận đã đóng tiền xong. Có những trường hợp mà vì không thể chạy ra tiền, một gia đình nghèo đành phải để cho thân nhân mình mang thương tật suốt đời, thậm chí phải chết đi.

Người ta bảo mọi người đều bình đẳng trước cái chết, nhưng khi công việc chữa trị đã trở thành một dịch vụ, thì trước cái chết con người cũng không còn bình đẳng nữa. Giàu thì sống, nghèo thì chết! Ấy là chưa nói đến những người ở vùng sâu vùng xa, không có tiền nong đi đến bệnh viện mà chữa trị, nên đành phải chết chỉ vì nghèo. Điều nghịch lý, ấy sự bất công này lại xảy ra chính khi Nhà Nước muốn thực thi công bình xã hội, bằng cách xã hội hóa y tế và giáo dục. Y tế cần phải có một hiệu quả, không thể làm qua loa lấy có được. Không thể nào chữa bệnh nửa chừng, và điều này cần phải có tiền, mà ngân sách Nhà Nước thì không thể trang trải hết được.

Tuy Nhà Nước có chính sách cấp thẻ khám bệnh miễn phí cho những đối tượng nghèo, nhưng thực tế cho thấy rằng người cầm tấm thẻ ấy không được đối xử bình đẳng với một người đã đóng tiền, cả về nhân phẩm cũng như số lượng và chất lượng thuốc men. Đó là chưa kể tình trạng quan liêu ở nhiều nơi, khiến cho người có khả năng chi trả thì nhận được thẻ khám bệnh miễn phí, còn người thật sự nghèo thì không được cấp phát. Trước tình trạng đó, nhiều đoàn y bác sĩ đã tổ chức đến vùng sâu vùng xa để khám bệnh và phát thuốc miễn phí, nhưng hiệu quả thì không cao, vì phương tiện và thời gian không cho phép họ can thiệp vào những bệnh đòi hỏi kỹ thuật cao hoặc thuốc men đắt tiền…

Trong lãnh vực giáo dục, thời gian vừa qua việc xã hội hóa học đường và việc tăng học phí cấp Đại Học đã gây nên cuộc tranh cãi về công bình xã hội đối với quyền được học hành. Để bảo vệ cho việc tăng học phí, những người có trách nhiệm nêu lên rằng ở Việt Nam, dù đã dành 18% ngân sách cho giáo dục, thì cũng không thể nào bảo đảm chất lượng giáo dục, khi phương tiện vật chất thiếu thốn và lương bổng giáo viên không đủ cho họ an tâm dạy học. Thế nhưng ngay cả khi một con em tại thành phố học tại một trường công lập, chứ không phải là trường tư, thì chi phí bình quân mà cha mẹ phải trang trải cho con mình mỗi tháng không dưới 400.000đ, gồm các món tiền cho cơ sở vật chất, học thêm tại trường hay tại nhà thầy cô, các sinh hoạt ngoại khóa…

Một thực tế khác, ấy là ngân quỹ Nhà Nước tập trung vào một số trường điểm, để thay vì cung cấp cho học sinh nghèo một phương tiện bình đẳng mà học tập, thì đấy chính lại là nơi mà con em nhà giàu mới có thể vào được! Vấn đề công bình xã hội vẫn còn đặt ra, khi mà không biết bao nhiêu em phải bỏ học, trong một nền giáo dục được xem là cưỡng bách và miễn phí. Quả như vậy, bởi vì thống kê Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cho thấy rằng năm 2000, trên toàn quốc có 17.806.158 em học sinh, thì năm 2007 còn 16.371.049 em, trong khi dân số gia tăng từ 77.685.500 lên 84.158.800 người[24] và trường học cũng tăng từ 23.960 lên 27.595 trường.[25]

3. Quyền con người.

Nói đến công bình xã hội, thì không thể không nói đến những quyền bất khả xâm phạm mà tất cả nhân loại đều công nhận.

Ngày 04-07-1776, tại Hoa Kỳ, bản Tuyên Ngôn Độc Lập (Declaration of Independence) khẳng định: Chúng tôi xem những chân lý này là hiển nhiên, ấy là mọi người được tạo dựng bình đẳng, rằng họ được Đấng Tạo Dựng ban cho họ một số quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền Sống, quyền Tự Do và quyền theo đuổi Hạnh Phúc.

Ngày 26-08-1789, tại Pháp, bản Tuyên Ngôn Về Quyền Của Con Người Và Của Công Dân (Déclaration des droits de l’homme et du citoyen) cũng lặp lại ý đó với những từ ngữ khác: Con người có quyền sinh ra và sống tự do và bình đẳng… Mục đích của mọi hiệp hội chính trị là bảo vệ các quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người. Những quyền ấy gồm quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh, và quyền chống lại áp bức.

Ngày 02-09-1945, tại Việt Nam, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập cũng mở đầu bằng những lời trong Tuyên Ngôn của Mỹ.

Nhưng quyền tự do ở đây không chỉ là tự do chính trị, theo nghĩa là không bị một dân tộc nào khác thống trị, mà còn là tự do theo nghĩa rộng nhất, được John Rawls tóm lược như sau:

Tự do tư tưởng - Tự do lương tâm để chọn một tôn giáo, một triết thuyết, một luân lý - Tự do về chính trị (ví dụ: tự do ngôn luận và tự do báo chí, tự do hội họp) - Tự do tổ chức hiệp hội - Tự do cần thiết để giữ toàn vẹn con người mình (nghĩa là tự do khỏi ách nô lệ, tự do đi lại và tự do chọn nghề nghiệp cho mình) - Quyền và tự do được luật pháp bảo vệ.

Tất cả những quyền tự do này, Việt Nam đều công nhận trong Hiến Pháp, tuy nhiên cách hiểu về thuật ngữ ‘tự do’ thì không đồng nhất giữa Việt Nam và các nơi trên thế giới.

Ví dụ về tự do lương tâm: Ngày 11 tháng 3 năm 2004, ông Lê Dũng, người phát ngôn bộ Ngoại Giao, đã trả lời một phóng viên như sau: Là một dân tộc đã trải qua đấu tranh gian khổ để giành những quyền tự do cơ bản nhất của con người là được sống trong độc lập, tự do; hơn ai hết, nhân dân Việt Nam hiểu rõ giá trị của quyền con người. Ở Việt Nam, các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và được tôn trọng trên thực tế.[26]

Ngày 07-11-2006, Việt Nam được chính thức gia nhập WTO; ngày 09-12, Thượng viện Mỹ đã thông qua dự luật Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR); và trước đó, ngày 14-09, Quốc hội Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách nước cần được đặc biệt quan tâm (CPC) do vi phạm tự do tôn giáo.

Ngày 17-03-2007, Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh, trưởng phái đoàn Toà Thánh đến Việt Nam từ 5 đến 11 tháng 3, đã phát biểu như sau, khi Radio Vatican phỏng vấn ngài về tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam: Tôi nghĩ rằng thông tri của Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh, phát hành sau khi Thủ Tướng viếng thăm Vatican, đã phản ánh đúng đắn tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Thông tri đó nói đến ‘những không gian đã mở ra’ và tôi có thể bảo đảm rằng, dựa trên chứng từ các giám mục, một số vấn đề đã được giải quyết và một số khác đang được giải quyết.. [27]

Thế nhưng, ngày 08-03-2007, Văn phòng Cao ủy LHQ về Quyền Con Người (UN HRC) phổ biến tờ trình của Liên Đoàn Quốc Tế về Quyền Con Người (FIDH: Fédération Internationale des Ligues des Droits de l’Homme). Tờ trình này khởi đầu bằng câu: “FIDH... lưu ý Hội Đồng Nhân Quyền về những vi phạm lặp đi lặp lại đối với quyền tự do ngôn luận và tôn giáo của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”[28]

Và ngày 18-09-2007, Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua Dự Luật Nhân Quyền đối với Việt Nam (gọi là Dự luật HR 3096), với 414 phiếu thuận so với 3 phiếu chống. Và thông qua dự luật này là một cách gián tiếp nói rằng Việt Nam chưa tôn trọng quyền tự do lương tâm của người dân mình một cách đúng mức.

Trên những lãnh vực khác thì cũng có hai mặt như thế:

Về tự do ngôn luận thì báo chí đã nêu lên nhiều hành vi tiêu cực lên đến tận cấp trung ương, và phê bình thẳng thắn những hạn chế trong nhiều lãnh vực nhạy cảm. Thế nhưng, cho đến nay, tất cả mọi cơ quan ngôn luận đều trực tiếp hay giáng tiếp thuộc về chính quyền, mà không có một tờ báo nào do tư nhân đứng ra làm chủ, ngoại trừ một vài tờ thông tin nội bộ như tờ Hiệp Thông của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Về quyền và tự do được pháp luật bảo vệ, thì bao nhiêu vụ án đã được xử để bảo vệ quyền dân sự cho người dân, thậm chí xử phạt những vụ tham nhũng lên đến cấp thứ trưởng; thế nhưng cũng còn bao nhiêu vụ tồn đọng khắp các tỉnh thành mà không biết đến bao giờ mới giải quyết. Về quyền tự do thiết lập hiệp hội thì đến bây giờ chỉ có những hiệp hội trực thuộc Đảng hay Nhà Nước mới có tư cách pháp nhân, còn những hội khác, ngay cả Hội Thánh Công Giáo Việt Nam, thì cũng không có tư cách pháp nhân để góp phần tích cực vào chương trình xây dựng công bình xã hội.

4. Kết luận:

Đấy là những vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu tường tận của các chuyên viên. Đối với công cuộc này, Giáo Hội nhắn nhủ: Các chuyên viên khoa học kinh tế, những người làm kinh tế và những nhà lãnh đạo chính trị cần phải cấp bách nhìn lại nền kinh tế, bằng cách xem xét, một mặt, cái nghèo vật chất bi đát của hàng tỉ người, và mặt khác, sự kiện là ‘các cơ chế kinh tế, xã hội và văn hóa hôm nay khó mà quan tâm đến những đòi hỏi của một sự phát triển chân chính’. Những đòi hỏi của một sự phát triển kinh tế chân chính cần phải được dung hòa nhiều hơn với những đòi hỏi của chính trị và của công bình xã hội. [29]

Những lãnh vực đó vượt ra ngoài giới hạn học thuyết của một tôn giáo. Tuy nhiên, học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo cũng có đề ra một hướng giải quyết, ấy là công bình xã hội phải được đặt trong một nền văn minh mới, một nền văn minh mà người công dân công giáo có bổn phận góp phần xây dựng. Giáo Hội gọi nền văn minh ấy là nền Văn Minh Tình Yêu:

“Tình yêu phải hiện diện trong mọi tương quan xã hội và thấm nhuần chúng. Đặc biệt, những ai có bổn phận phục vụ lợi ích nhân dân cần phải chuyên cần nuôi dưỡng trong bản thân mình và làm nảy sinh trong người khác, từ người cao trọng nhất đến người thấp hèn nhất, lòng bác ái, nữ hoàng và chủ nhân của mọi đức hạnh khác… Tình yêu đó có thể gọi là ‘bác ái xã hội’ hay ‘bác ái chính trị’ và phải được thông truyền đến toàn thể nhân loại. “Tình yêu xã hội’ là đối cực của chủ nghĩa ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân.” [30]

Và cũng vì thế mà Đức Piô XI, qua thông điệp Bốn Mươi Năm (Quadragesimo Anno), xem công bình xã hội vừa là một đức hạnh cá nhân vừa là một nền tảng cho trật tự xã hội: Xã hội chỉ có thể công bình ngày nào các cá nhân và thể chế trở nên công chính mà thôi.

----------

Chú thích:

[20] Nghị quyết Đại Hội X của Đảng CSVN. Chương IV Phần A Đoạn 1

[21] VNN Thứ Ba, 3-4-2007 - http://www.bacninh.gov.vn/Story/TinTuc-SuKien/TinHoatDong/2006/9/6223.html

[22] Số liệu về thu nhập bình quân đầu người năm 2006 được ghi nhận khác nhau trong các văn bản. Số ấy dao động từ 620 USD/năm đến 750 USD/năm.

[23] Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI), bản tin ngày 14-11-2006.

[24] Cục Thống Kê - Dân số và Lao Động - http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=6156

[25] Sở Giáo Dục và Đào Tạo - Thống kê - http://www.moet.gov.vn/?page=11.10&view=9264

[26] Ministry of Foreign Affairs - http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns040818152525154

[27] Zenit, March 26, 2007 - http://www.zenit.org/article-15039?l=french

[28] A/HRC/4/NGO/106 - 08/03/2007: Situation des Droits de l’Homme au Vietnam.

[29] Compendium of the Social Doctrine # 564

[30] ibid. # 581

TRÒ CHUYỆN VỚI CHỊ DƯƠNG THỊ TÂN (VỢ CŨ ĐIẾU CÀY)




Người mặc áo nâu (bên trái Điếu Cày) tên Long - CAQ3

.

September 16, 2008

.

Chiều hôm qua, sau giờ làm việc, tôi mua ít trái cây rồi đi thẳng từ chổ làm đến nhà chị Dương Thị Tân (vợ cũ ông Nguyễn Văn Hải - blogger Điếu Cày).

Trong căn hộ tận tầng 3 chung cư 57 Phạm Ngọc Thạch, quận 3, Sài Gòn. Chị Tân và 2 con (một trai, một gái) đang ngồi xem ti vi. Đã hơn 6 giờ chiều mà cả nhà vẫn chưa ăn cơm chiều.

Thấy tôi đến, chị Tân mừng rỡ như đón người thân đi xa mới về. Rồi chị liên tục kể hàng tràng về cái tai họa “từ trên trời rơi xuống” đổ ập vào gia đình chị như để trút nỗi uất hận trong lòng.

Từ ngày người ta ùn ùn kéo đến nhà chị khám nhà, chị đổ quỵ vì không hiểu chuyện gì xảy ra. Rất đông “người Nhà nước” luôn tự ý tràn vào nhà chị, đòi vào phòng ngủ của chị, hạch sách con gái chị học lớp nào, trường nào, giáo viên chủ nhiệm là ai. Rồi vặn tay cháu gái của chị (chưa đủ 18 tuổi, từ quê vào ở nhờ nhà chị Tân đi học) mà nói rằng: “Mày có tin là tao làm cho mày nghỉ học không?”. Tác oai tác quái nhiều nhất trong những việc này là một cán bộ Công an quận 3 tên Long (số điện thoại 0903 622 153). Lần nào, họ cũng bị chị cự tuyệt, cương quyết mời ra khỏi nhà nếu không thực hiện đúng quy định pháp luật. Chị Tân nói: “Tôi không hiểu tại sao trong lực lượng Công an cấp quận mà lại có kẻ vô văn hóa đến như vậy. Mở miệng ra là “mày”, “tao”, “thằng kia”, “con nọ”, “con mẹ này”, “thằng cha đó”… Cị nói người tên Long này trước đây ngày nào cũng gọi điện thoại đến quấy nhiễu chị cả chục lần.

Rồi chị kể suốt ba tháng điều tra là thời gian chị luôn luôn bị “khủng bố tinh thần” đến mức sợ hãi không dám gặp ai, ngay cả bạn bè cũng từ chối tiếp xúc. Điều tra viên cứ lặp đi lặp lại là “Chị bị “văng miểng”, “tội này là tội của ông Hải” trong khi “chính chị mới là người nhận tiền cho thuê nhà chớ ông Hải có nhận đồng nào đâu”. Rồi người ta còn bảo chị làm đơn tố cáo ông Hải, nhưng chị thẳng thắn trả lời là “ông Hải từ trước đến giờ ngay cả chửi thề cũng chưa bao giờ có, tuy vợ chồng có những bất đồng phải chia tay nhưng chị không nói xấu người khác được”. Ở khu phố thì người ta họp dân tuyên truyền rằng ông Hải là “phản động”, chị đã mạnh dạn nói với mọi người rằng: “Nếu ông ấy “phản động” sao không bắt tội “phản động” đi, tội ấy xử án còn nặng hơn tội này nữa, không bắt về tội “phản động” tức là ông Hải không “phản động”.”.

Tôi thầm phục chị là người phụ nữ vốn chân chất, ít học, từ trước đến nay chỉ lo việc nội trợ mà có cách lập luận chặt chẽ và rất hay, rất đúng. Người đàn bà với bề ngoài có vẻ yếu đuối mong manh, dễ vỡ nhưng lại toát ra nghị lực và sức mạnh nội thân trước cơn sóng dữ bạo tàn.

Rồi chị tấm tức kể về diễn biến phiên Tòa sơ thẩm ngày 10/9/2008 vừa rồi. “Đó là một vở kịch được dựng sẳn nhưng diễn rất dở. Viện kiểm sát thì nói đến sùi bọt mép. Hội đồng xét xử ngồi ngủ gật, Luật sư, đại diện cơ quan Thuế nói không ai thèm nghe, HĐXX không cho chị nói. Tất cả người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không hiểu sao đều vắng mặt. Duy nhất chỉ có đại diện Công ty Mắt Kính Hà Nội đến phiên Tòa nhưng không bị Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử xét hỏi. Luật sư đặt câu hỏi thì đại diện Công ty Mắt Kính cứ câng câng mặt trả lời: “Tôi không trả lời câu hỏi này”. Cụ Luật sư Trần Lâm đã bức xúc: “Trong phiên xử tranh chấp dân sự thì có quyền từ chối trả lời, nhưng trong phiên xử hình sự thì bắt buộc đương sự phải trả lời các câu hỏi”; tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa lại im lặng để sự việc này cứ lặp đi lặp lại. Đại diện VKS thì từ chối tranh luận với Luật sư, cụ Luật sư Trần Lâm lại một lần nữa bức xúc: “Tại sao ông từ chối tranh luận với Luật sư? Ông có trách nhiệm phải tranh luận đến khi nào tôi không còn câu hỏi nào khác nữa thì thôi!”, nhưng ông VKS này im lặng không trả lời mà Chủ tọa phiên tòa lại không có động thái nào điều chỉnh hành vi từ chối tranh luận trái luật của đại diện VKS”.

Chị Tân nói chị có đủ bằng chứng để chứng minh rằng chính phía thuê nhà mới là đối tượng trốn thuế, đại diện cơ quan Thuế cũng trình bày là ai cũng có quyền đến cơ quan thuế đóng thuế tùy theo thỏa thuận, kể cả đóng thuế dùm cho người khác, không nhất thiết cứ phải bắt buộc là người cho thuê nhà, nhưng chứng cứ của chị lẫn ý kiến đại diện cơ quan Thuế lại không được HĐXX chấp nhận.

Tôi hỏi chị có ý định kháng cáo bản án sơ thẩm không? Chị Tân nói sau phiên xử có “người Nhà nước” bảo chị “Đừng kháng cáo vì chị bị án treo, có ngồi tù ngày nào đâu” nhưng chị trả lời chị nhất định phải kháng cáo vì chị vô tội, án treo cũng là án tù, chị kháng cáo vì danh dự gia đình, vì các con chị chớ không phải vì bản thân chị”.

“Chị bị người ta dồn vào đường cùng rồi em ạ! “Con giun xéo lắm cũng quằn” mà, bắt buộc chị phải vùng vẫy thôi. Nhà cho thuê thì người thuê không chịu trả tiền thuê nhà. Gia đình hiện nay không có nguồn thu nhập nào khác, may nhờ có thằng cháu anh Hải nó làm được đồng nào mang đến giúp chị nuôi hai cháu tiếp tục ăn học, nhưng mượn của nó thì cũng phải trả, chớ lấy không thế nào được. Rồi án sơ thẩm buộc phải nộp hơn 800 triệu đồng thì chỉ có nước bán nhà rồi ra đường ở, chớ chị lấy đâu ra tiền nộp. Chưa đến mức phải chạy ăn từng bữa nhưng giờ cũng gần như vậy”.

…

Tôi chỉ còn biết an ủi chị hãy vững tinh thần mà lo cho các cháu, giờ chỉ còn một mình chị, chị có bề gì thì hai cháu biết trông cậy vào ai. “Chị đừng lo lắng gì cả, bạn bè anh Hải không bao giờ bỏ rơi gia đình chị. Sức khỏe của chị là trên hết. Có mạnh khỏe thì mới có tinh thần sáng suốt, nghị lực vững vàng mà quyết định mình phải làm gì để đi tìm công lý chị à!”.

.

Tạ Phong Tần

___________________

Bác nào muốn thăm chị Tân vui lòng đến địa chỉ:

Bà Dương Thị Tân

Phòng số 31 lầu 3, chung cư 57 Phạm Ngọc Thạch, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0983 110 394

Human Rights Watch kêu gọi trả tự do cho




Tổ chức Human Rights Watch ngày 12/09/2008 đã phổ biến một bản thông cáo báo chí lên án vụ đàn áp các phần tử tích cực tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam trong tuần này.

Human Right Watch kêu gọi Việt Nam trả tự do ngay cho ông Nguyễn Hoàng Hải, bút hiệu Điếu Cày, một nhân vật tích cực tranh đấu cho dân chủ và là một blogger nổi tiếng, bị kết án 30 tháng tù hôm 10 tháng 9 vừa rồi.

Theo Human Rights Watch, sau vụ xử kín ông Điếu Cày, cảnh sát Việt Nam còn bắt giữ và thẩm vấn hơn 10 phần tử tranh đấu cho dân chủ, blogger và các nhân vật tranh đấu cho nhân quyền khác.

Bà Elaine Pearson, Phó Giám Đốc Văn Phòng Á Châu của Human Rights Watch, nói rằng chính phủ Việt Nam nổi tiếng về chuyện không hề khoan dung đối với quyền tự do bầy tỏ tư tưởng.

Theo bà Pearson, đợt sóng bắt giữ những người tranh đấu cho dân chủ mới đây cho thấy mưu toan che đậy vụng về của chính phủ trong việc bịt miệng các blogger và các nhà báo độc lập, cũng như bịt miệng những người bênh vực nhân quyền tại Việt Nam.

Bản thông cáo báo chí của Human Right Watch đề cập tới các vụ bắt giữ ông Điếu Cày và một số người vì tội tham gia những hoạt động bài Trung Quốc trong dịp Trung Quốc đưa ra những lời công bố chủ quyền về hai dãy đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và trong vụ rước đuốc Thế Vận tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Bản thông cáo báo chí của tổ chức tranh đấu cho nhân quyền này cũng nói tới vụ chính quyền bắt giữ những người tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo, những nông dân phản kháng chuyện chính phủ tịch thâu ruộng đất, và vụ cảnh sát bắt giữ những nhà báo của hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ về tội tường thuật vụ tham nhũng khủng khiếp năm 2005.

Bản thông cáo báo chí nêu đích danh những phần tử đấu tranh đang bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, đồng thời cho biết là hôm 10 tháng 9 vừa rồi, nhà cầm quyền Hà Nội đã buộc tội 4 giáo dân Công Giáo tham gia các vụ phản kháng ở giáo xứ Thái Hà và bị bắt hôm 28 tháng 8.

Theo: VOA Vietnamese

XUNG QUANH PHIÊN TÒA TRÁ HÌNH: NHÀ CẦM QUYỀN ĐÃ TỰ LỘT MẶT NẠ CỦA MÌNH


Ngày 10/9/2008 là ngày Ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày bị đưa ra tòa án quận 3 để xử về tội "trốn thuế". Tin này đã được giới blogger loan tải rộng rãi trước đó hàng tuần lễ. Cộng đồng các blogger người Việt trong nước và hải ngoại đã xôn xao chờ đón để tham dự phiên tòa rất đặc biệt này, vì cho rằng một phiên tòa dân sự, xét xử công khai trong một tòa án cấp quận thì khả năng đến tham dự là dễ dàng.

Trái với nhận định đó, từ ngày 09/9/2008 các cơ quan công an đã triển khai và dùng nhiều phương sách để ngăn cản nhân dân đến tham dự phiên tòa này.

- Blogger CL&ST, tức Tạ Phong Tần, đã nhận được một giấy mời lên công an quận để làm việc;

- Blogger DongA SG, tức sinh viên Hoàng Đức Trọng, cũng được công an mời để đả thông tư tưởng;

- Blogger Uyên Vũ, tức Vũ Quốc Tú, cũng được nhiều công an đến nhà đưa giấy mời làm việc ngày 10/9;

- Nhà thơ Bùi Chát nhận được lời nhắn nhủ để không được đến phiên tòa.

- Blogger Trang Dem, tức Hồ Điệp, cũng nhận được giấy mời lên công an "để hỏi một số việc";

Nhiều người khác thì bị công an lùng sục hoặc bám sát từng bước như blogger Anhbasg, Lê Quốc Quyết, Ls Lê Trần Luật, blogger Thiên Sầu... Cũng ngay trong ngày 09/9, nhiều người đã bị công an đặt trạm canh gác như ông Phương Nam Đỗ Nam Hải, Uyên Vũ, Anhbasg, Ls Lê Trần Luật, Lê Quốc Quyết, Vũ Thanh Phương...

Sáng ngày 10/9 chung quanh khu vực xử án với bán kính 1km, đông đảo công an, an ninh chìm, cảnh sát cơ động, CSGT, thanh niên xung kích đã triển khai rầm rộ để ngăn chặn bất cứ ai có ý định đến tham dự mà không có giấy mời. Nhiều phóng viên nước ngoài không thể đến để tường thuật thông tin. Cơ quan công quyền chỉ phát giấy mời rất hạn chế dành cho những "thân hữu của công an".

Blogger Anhbasg đưa con đi học đã bị nhiều công an kè xe bám sát, CSGT đã thổi phạt Anhbasg vì một lỗi cỏn con và dùng dằng không cho đi để an ninh có cơ hội áp gỉai anh về công an kinh tế, mãi đến 13h, Anhbasg mới được thả.

Blogger Tạ Phong Tần bị chặn xe taxi để “mời” cô đi "uống café" với 3 anh Công an;

Ls Lê Trần Luật bị 7 anh Công an đến nhà ép đi lên đồn công an trong khi thân phụ LS Luật bịnh nặng cần phải về quê gấp;

Blogger Thiên Sầu có mặt gần khu vực tòa án liền bị công an đưa về công an P.6, Q.3 đến chiều;

Công an cũng buộc cha blogger DongA lên khu vực Tòa án để kiếm và bắt DongA về;

Hai chị em Lư Thị Thu Duyên, Lư Thị Thu Trang bị công an bắt đưa về đồn đến chiều mới thả;

Trạm gác nghiêm nhặt với 4-5 An ninh mặc thường phục quanh văn phòng làm việc và nhà riêng nhiều người đã thiết lập từ suốt 2 ngày 09/9 đến chiều 10/9.

Rất nhiều sinh viên, thanh niên, công chức có ý định đến dự phiên tòa đã bị mời vào đồn Công an để hỏi han, đe nẹt, ghi tên và thu giữ điện thoại di động, có khả năng các cuộc điện thoại trong bán kính 1km đều bị nghe lén.

Việc triển khai lực lượng quy mô, rầm rộ nhiều binh chủng, nhiều địa bàn, với đầy đủ trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại này, dĩ nhiên ngoài khả năng của Công an quận, mà chính là do Công an cấp Thành phố chỉ đạo, thực hiện

Bất chấp tất cả lý lẽ trong bài bào chữa của 4 luật sư, bất chấp những lời khẳng khái của Điếu Cày, lúc 15g30 HĐXX sơ thẩm đã tuyên xử Điếu Cày với mức án 2 năm 6 tháng, 16 tháng tù treo và 3 năm thử thách cho bà Dương Thị Tân vợ cũ của Blogger Nguyễn Văn Hải - Điếu Cày, đồng thời phạt gấp đôi tiền "trốn thuế" tức khoảng 900 triệu.

Một công dân mà trốn tránh nghĩa vụ thuế không phải là công dân tốt, bất cứ quốc gia nào cũng cần phải đem ra xét xử công khai để làm gương và khuyến khích người dân tự giác nộp thuế. Đúng ra, vụ án Điếu Cày “trốn thuế” cần phải đem xử lưu động tại nơi cư trú để bất cứ ai cũng được tham dự, đây cũng là cách tuyên truyền pháp luật tốt nhất. Nhưng rõ ràng, các phương sách rầm rộ mà Công an thành phố HCM triển khai để ngăn cản, hăm dọa tất cả những ai có ý định tham dự phiên tòa, đã biến phiên tòa - theo luật không được xử kín trở thành phiên tòa xử kín trái luật. Việc công khai cản trở người dân đến tham gia phiên tòa là hành vi xâm phạm nhân quyền một cách thô bạo của nhà cầm quyền. Ai muốn biết người dân Việt Nam hiện nay có quyền tự do ngôn luận, có quyền tự do báo chí, có quyền tự do biểu tình, có quyền tự do đi lại hay không cứ nhìn vào phiên tòa sơ thẩm xét xử Điếu Cày sẽ rõ.

Chính cách hành xử của nhà cầm quyền đã bộc lộ rõ mưu đồ chính trị hòng dẹp ngay trong trứng nước những phản kháng của dư luận về phiên tòa trá hình này, một lần nữa, chính nhà cầm quyền đã tự lột mặt nạ của mình và tự khẳng định rằng: Điếu Cày là người vô tội, Điếu Cày đã phải trả giá cho lòng yêu nước của mình bằng những năm tháng tù đày.

Dư luận đang đặt câu hỏi: Sau hai năm sáu tháng tù, Điếu Cày không cho ai thuê nhà của mình nữa thì nhà cầm quyền Việt Nam (Thành phố Hồ Chí Minh) sẽ nghĩ ra thêm tội danh gì để gán ghép tiếp theo?

CLBNBTD