Hiển thị các bài đăng có nhãn luật_pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật_pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

TỪ LÝ DO "AN NINH" CHUYỂN SANG "THI HÀNH ÁN"(?!)




May 13, 2009

.

(Tiếp theo entry ngày 12/5/2009)

2 giờ chiều nay, đúng hẹn, chúng tôi đến trụ sở CAP8, quận 3. Người tiếp chúng tôi vẫn là ông Trung tá Nguyễn Văn Riết.

Chị Tân hỏi: "Việc của tôi hôm nay anh giải quyết thế nào?". Ông Trung tá Riết nói: "Ở trên nói là cái nhà đó bây giờ không cho ai ở vì phải thi hành án". Chị Tân hỏi: "Thế anh có biết nhà đó hiện nay ai là chủ trên giấy tờ không? Anh có biết tôi là chủ hộ trong nhà ấy không? Anh nói để thi hành án thì giấy tờ đâu? Quyết định thi hành án đâu?". Ông Riết lại lập bập: "Tôi không biết, tôi không có giấy, tôi chỉ nghe nói như vậy. Chị không đồng ý thì khiếu nại lên quận". Chị Tân tiếp tục hỏi: "Anh làm khu vực quản lý chổ ấy mà anh nói thế thì trình độ nghiệp vụ của anh quá kém, anh không nắm được sự việc gì hết". Ông Trung tá Riết nói: "Chị muốn cho tôi trình độ nghiệp vụ kém thế nào cũng được. Chỉ huy của tôi đã chỉ đạo như vậy thì tôi thông báo lại chị như vậy. Chị không ở trong nhà đó, chị ở chổ khác thì chị không có quyền".

Chị Tân nói: "Anh bị ép nói như thế hay chính anh nói như thế cũng được. Tôi nói cho anh biết, tôi có quyền có tài sản ở bất cứ nơi đâu trên phạm vi đất nước Việt Nam này, và tôi có quyền đối với tài sản của tôi, tôi muốn cho ai mượn là quyền của tôi. Anh không cho đăng ký tạm trú thì chính anh chịu trách nhiệm có phải không?". Chị Tân lặp lại câu hỏi hai lần, ông Trung tá Riết ngồi ngậm tăm mãi một lúc mới nói được mấy chữ: "Ừ, thì tôi chịu trách nhiệm. Chị không đồng ý cứ khiếu nại lên quận". Chị Tân đứng lên, nói: Tôi ở địa bàn nào thì trình báo ở địa bàn đó. Chúng tôi đâu phải là quả bóng mà anh muốn đá đi đâu thì đá".

Tôi nghe vậy ngứa mồm quá mới chêm vào: "Chúng tôi không việc gì phải lên quận khiếu nại. Chúng tôi có trình báo, ghi nhận hay không tùy anh. Đã thế thì chúng tôi đi về, không cần nói thêm nữa. Sau này đừng bắt bẻ chúng tôi tạm trú không trình báo nhé!".

Chuyện đến đây tạm dừng. Chỉ có "đỉnh cao trí tuệ" mới nghĩ ra được "chiêu thức" quái như thế, đố mọi người tìm được ở các bọn "đỉnh thấp trí tuệ" mấy cái vụ tương tự như thế này.

Cần nói rõ thêm một chi tiết là từ khi xét xử phúc thẩm đến nay chưa hề có Quyết định thi hành án nào được thông báo đến chị Tân, nhưng chiều nay Công an Thành phố Hồ Chí Minh lại có Giấy Mời chị Tân sáng mai đến để "hỏi về việc thi hành án treo" (không đá động gì đến nhà cửa, tài sản nhé), còn ông Trung tá Riết lại nói phải để cái nhà này "thi hành án". Hóa ra Công an thành phố Hồ Chí Minh bây giờ lại kiêm luôn công việc của bên Thi hành án?

Tạ Phong Tần

KHÔNG AI ĐƯỢC Ở NHÀ ĐIẾU CÀY VÌ LÝ DO AN NINH?




May 12, 2009

.

"Không ai được ở nhà ông Nguyễn Văn Hải vì lý do an ninh". Đó là câu trả lời của ông Bùi Duy Hải - Đại úy (số hiệu 265-407) Công an phường 8, quận 3, TPHCM nói với tôi.

Cuối tháng 5 này, nhà số 30 đường số 3, căn cứ 26B, Gò Vấp (VPLS Pháp Quyền cũ) hết hạn hợp đồng thuê nhà, những người đang tạm trú tại nhà này tự đi tìm chổ ở mới cho mình. Chị Tân (vợ cũ của ông Nguyễn Văn Hải - Điếu Cày) đã gọi tôi và Ls Nguyễn Quốc Đạt đến ỏ tại nhà số 84D Trần Quốc Toản (Quận 3) để trông nhà giúp chị. Bởi lẽ nhà này sau khi ông Nguyễn Văn Hải bị bắt thì không ai dám đến thuê làm ăn buôn bán gì nữa, nhà đóng cửa bỏ trống từ đó đến nay đã hơn một năm.

Khi chị Tân mở cửa bước vào nhà, mùi ẩm mốc xông lên nghẹt mũi, khắp nơi nhện giăng bụi bám. Nhà hàng xóm xây mới đổ tứ tung vôi vữa, xi măng vào thảm trải nền nhà, mái nhà bị thủng và máng xối bị giật sập xuống, nước mưa tràn vào nhà khắp nơi, nhà kế bên đóng cừ xây mới cũng làm cho tường nhà bị nứt. Tôi trông thấy nhà hàng xóm còn quá đáng hơn nữa khi cho nguyên cái ống xả nước của máy lạnh vào để xả nước từ nhà họ sang nhà chị Tân. Họ còn đặt thùng rác của nhà họ ngay trước cửa nhà chị Tân... Đó cũng là những lý do để chị Tân phải tìm người ở trông nhà hộ mà không lấy đồng xu tiền thuê nhà nào.

Đúng 9 giờ ngày 12/5/2009, tôi và Ls Nguyễn Quốc Đạt có mặt tại Công an phường 8, quận 3 để làm thủ tục đăng ký tạm trú. Anh Công an ngồi ngay bàn trực ban bảo chúng tôi sang Công an phường Tân Định mua quyển sổ đăng ký tạm trú vì "bên này hết rồi". Chúng tôi trở ra mua sổ. Xong quay lại ghi đầy đủ các cột mục trong sổ gồm: Họ tên chủ hộ (Dương Thị Tân), địa chỉ nơi tạm trú, họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ người đăng ký tạm trú, thời gian đến tạm trú vào sổ.

Chúng tôi nộp sổ cùng với giấy đồng ý cho mượn nhà, giấy chứng minh nhân dân của tôi và Đạt cho ông Riết - Trung tá CAP8 (nghe nói ông này là Cảnh sát khu vực khu phố đó). Ông Riết cầm giấy tờ của chúng tôi lật qua lật lại xem xét khoảng 10 phút rồi cầm đi vào trong, nói là báo cáo với chỉ huy của ông.

Ngồi đợi khoảng 30 phút mới thấy ông Riết trở ra nói là "Không thể đăng ký tạm trú được vì chỉ huy nói nhà này của Nguyễn Văn Hải, có vấn đề về an ninh, không ai được ở". Tôi hỏi: "Có vấn đề về an ninh là làm sao vậy anh?". Ông Riết nói: "Thì chỉ huy của tôi nói vậy tôi biết vậy, không được là không được. Chị đi kiếm chổ khác ở đi". Tôi nói: "Nhà này tôi được chủ nhà cho ở không mất tiền, tự dưng anh bảo tôi đi kiếm chổ khác ở ai trả tiền thuê nhà cho tôi. Anh trả à? Nếu anh không đăng ký thì anh ghi vào sổ này anh không đăng ký để tôi báo với chủ nhà". Ông Riết không trả lời câu hỏi của tôi mà cứ lắp bắp lặp đi lặp lại mấy chữ "Vì lý do an ninh". Tôi thấy vậy mới gọi điện thoại cho chị Tân: "Chị lên CAP8 nói chuyện với mấy anh công an đi. Mấy anh này nói nhà chị không thể ở được vì lý do an ninh".

Chúng tôi tiếp tục ngồi tại Phòng Trực ban chờ chị Tân, còn ông Riết bỏ đi chổ khác.

Khoảng 10 phút sau, ông Đại úy Bùi Duy Hải đến hỏi tôi chờ gì. Tôi nói đăng ý tạm trú. Ông Đại úy Hải cầm giấy tờ của chúng tôi xem một lúc rồi nói để xin ý kiến chỉ huy. Xong ông Đại úy Hải đi vào trong rất lâu mới trở ra và trả lời tôi rằng: "Trên Thành phố có lệnh nhà này không đảm bảo an ninh, chủ nhà đang bị tù, không được cho ai ở". Tôi nói: "Theo Luật cư trú công dân có quyền cư trú bất cứ nơi nào pháp luật không cấm, nhà 84D này tôi không thấy treo bảng là khu vực cấm, nếu anh nói không được ở thì ai cấm, lý do cấm, anh cho tôi cái văn bản. Tôi là người rất chấp hành pháp luật, nếu có văn bản cấm thì tôi đi nơi khác". Ông Đại úy Hải nói: "Điều 166 Luật cư trú quy định không được ở nhà này". Tôi nói: "Trong Luật cư trú không hề ghi là không được ở nhà số 84D Trần Quốc Toản. Còn ai cấm thì anh cho tôi văn bản đi. Anh có biết Việt Nam này hiện nay có bao nhiêu người đi tù không? Khoảng vào ngàn người đó. Chẳng lẽ nhà của tất cả những người ấy thì không ai được ở hay sao? Ông Nguyễn Văn Hải vi phạm thì luật pháp xử lý ông Hải, cái nhà thì liên quan gì. Ông Hải đi tù chớ cái nhà của ông Hải có đi tù đâu mà tôi không ở được?". Ông Đại úy Hải hỏi: "Chị ở đây có kinh doanh gì không?". "Không, chúng tôi chỉ ở, còn đi làm chổ khác"- Tôi trả lời.

Lúc này, chị Tân cầm giấy tờ nhà đến. Chị Tân hỏi ông Đại úy Hải: "Anh cho tôi biết, tôi cho người khác ở trông nhà giúp tôi như thế này tôi có làm sai không?". Ông Đại úy Hải nói: "Chị không làm sai. Thôi để tôi hỏi ý kiến chỉ huy xem sao".

Chúng tôi lại ngồi chờ đến gần 11 giờ thì thấy ông Hải thay quần áo thường phục ra. lấy xe đi về Ls Đạt và chi Tân chận ông Đại úy Hải lại nói: "Anh đi về thì việc của tôi ai giải quyết?". Ông Đại úy Hải nói: "Lát nữa có anh Phó CAP giải quyết".

Một lúc sau, ông Riết lại cầm giấy tờ của chúng tôi trở ra nói: Thôi chị về đi, 2 giờ chiều ngày mai đến đây giải quyết". Tôi hỏi tiếp: "Thế hôm nay tôi dọn nhà đến ở thì sao?". Ông Riết nói: "Chị khoan dọn nhà, để mai rồi tính". Chị Tân hỏi: "Anh cho tôi biết cấp nào cấm không cho người khác ở nhà của tôi?". "Ở quận". Ông Riết trả lời.

Chúng tôi cầm giấy tờ ra về.

Người Việt Nam có quyền cư trú bất cứ nơi nào trong đất nước Việt Nam , đó là quyền đương nhiên được pháp luật bảo vệ, không phải là chỉ tiêu, chế độ nhu yếu phẩm được phân phối của Nhà nước đối với dân như thời bao cấp và càng không phải là ơn huệ để ban phát xin-cho.

Điều kỳ quặc ở cái sự đăng ký tạm trú này là Luật cư trú 2007 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cư trú kèm theo quy định rõ công dân đến nơi nào tạm trú chỉ cần trình báo với Cảnh sát khu vực hay Tổ trưởng dân phố nơi đến tạm trú là đủ. Cảnh sát khu vực, Tổ trưởng dân phố có trách nhiệm ghi nhận việc trình báo tạm trú, không ai có quyền cho hay không cho đăng ký tạm trú trừ phi nơi đó là khu vực cấm (có văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành đúng thẩm quyền quy định hẳn hoi, không phải nói miệng nhá).

Đáng lẽ chính quyền phường 8 quận 3 phải hoan nghênh tinh thần chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh của chúng tôi vì chưa đến ở mà đã đăng ký tạm trú trước, đàng này lại tìm đủ lý do không có trong luật để cù cưa kéo dài thời gian ghi nhận việc trình báo tạm trú.

2 giờ chiều ngày mai (13/5/2009) chúng tôi có đăng ký tạm trú được hay không? Tôi có thể đến Công an phường 8 quận 3 đúng hẹn để làm thủ tục trình báo tạm trú hay là lại được hân hạnh "mời" "tiếp tục làm việc" ở Công an quận Gò Vấp để CAP8 quận 3 viện lý do "không đến đúng hẹn thì không giải quyết"???

Muốn biết kết quả thế nào, cứ chờ sau 2 giờ chiều mai sẽ rõ.

Chắc tối nay tôi phải đọc kinh cầu nguyện cho lãnh đạo Công an được sáng suốt mà giải quyết cho chúng tôi tạm trú.
Tạ Phong Tần
Photobucket

Nhắc nhở báo Công An




Xin hãy cân nhắc khi sử dụng từ

Báo Công An TP.HCM số 1766 ra ngày 21/03/2009 có bài viết “Những cách thức làm ăn bê bối của VPLS Pháp Quyền” do luật sư Lê Trần Luật (Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận) làm trưởng văn phòng, bài viết trên là một trong loạt bài mà nhóm phóng viên Báo Công An TP.HCM đăng về hoạt động của VPLS này.


Tôi là luật sư của Đoàn Luật sư TP.HCM, khi đặt bút viết về bài báo này, tôi xin được dùng tư cách là một công dân thành phố, một bạn đọc thường xuyên của Báo Công An TP.HCM để được nói lên vài ý kiến của cá nhân tôi về một số từ mà nhóm phóng viên của Báo Công An TP.HCM đã sử dụng trong bài viết trên.

1- Ông Lê Trần Luật là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mọi hành vi vi phạm của ông nếu đủ chứng cứ sẽ có pháp luật phân xử, nhưng bên cạnh đó với tư cách là một công dân, trước khi bị tòa án tuyên bố có tội hay không thì ông vẫn là một công dân được pháp luật bảo vệ.

2- Ông Lê Trần Luật đã và đang là một luật sư, được quản lý về mặt hành chính bởi Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận, Sở Tư pháp Ninh Thuận, Giấy Chứng nhận hành nghề luật sư của ông do Bộ Tư pháp cấp. Trước khi các cơ quan này lên tiếng kết luận về vi phạm trong lĩnh vực hành nghề luật sư thì ông vẫn đang là một luật sư có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Do đó, xin hãy khoan vội dùng những từ ngữ như: GIAN DỐI- THỦ ĐOẠN LỪA BỊP- CHÂY LỲ LẤP LIẾM- NHẶT NHẠNH NHỮNG ĐỒNG TIỀN MÀ KHÁCH HÀNG BỐ THÍ ĐỂ NHÉT VÀO TÚI RIÊNG- BÊ BỐI- LEM NHEM- GIẬT GẤU VÁ VAI... Theo cạn ý của tôi quan hệ giữa luật sư Lê Trần Luật và khách hàng là quan hệ dân sự, nếu có vi phạm thì khách hàng có quyền khởi kiện tại tòa án để đòi bồi thường thiệt hại (nếu có). Thậm chí nếu luật sư Lê Trần Luật có vi phạm nặng nề hơn thì các cơ quan chức năng có quyền khởi tố bắt giam ông như mọi công dân khác. Nên đứng về phía nghề nghiệp, luật sư Lê Trần Luật vẫn còn đang chờ kết luận của Hội đồng Kỷ luật Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận, sao lại vội sử dụng những từ ngữ như trên đối với một công dân nói chung và một luật sư nói riêng.

Tôi là bạn đọc rất thường xuyên của Báo Công An, do đặc điểm của ngành nên quí báo thường có rất nhiều tin độc đáo, hấp dẫn nên đã có lượng độc giả rất phong phú về số lượng và thành phần. Qua bài viết này tôi rất mong được dùng thành ý của mình đóng góp cho quí Báo ngày càng xứng tầm với niềm tin mà bạn đọc mong đợi. Vì tôi biết cho dù một công dân vi phạm pháp luật và bị đưa ra trước vành móng ngựa, Hội đồng xét xử vẫn rất cân nhắc sử dụng từ ngữ để thẩm vấn họ nhằm tôn trọng danh dự và nhân phẩm của một công dân trước khi bị tòa tuyên có tội hay không có tội, huống chi...

Luật sư Đoàn Thị Lan

http://hcmcbar.org/?option=com_contentlist&task=detail&cat=4&type=2&id=193

Được hát, đọc, xem những gì luật không cấm




Nguyễn Hữu Vinh - Hà Nội

Cái thời "cả nước nô nức vào hợp tác xã (HXT)", thì mảnh đất phần trăm mỗi hộ được chia mới là nơi mà người nông dân mê đắm nhất, vì nó là thứ họ kiếm thêm tối đa đúng với công sức của mình chứ không chỉ sống nhờ công, điểm cứng nhắc từ HTX.

Các thứ rau quả trồng ở đây, được đem bán ra chợ, thu tiền đút túi (không phải nộp HTX). Nhưng lại còn phải nuôi gia cầm nữa, chúng có thể phá hỏng vườn rau?

Thế là, thay vì nhốt lũ gà, vịt lại, họ quây rào chỉ những thứ rau nào có thể bị chúng phá thôi. Như vậy gà vịt cũng được tự do kiếm mồi, giao lưu phát triển nòi giống, mà rau quả cũng vẫn tươi tốt.

Quản người

Thế nhưng hình như trên thành phố, người ta không học được kinh nghiệm này của bà con nông dân để quản lý con người, nên đã có phương pháp ngược lại.

Vì qua các văn bản pháp luật, thấy rõ một điều là người dân chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép, thay vì được làm những gì pháp luật không cấm. Mà các văn bản pháp luật thường được ban hành chậm, rối rắm chồng chéo, không theo kịp với bước phát triển xã hội, bộ máy lập pháp cũng còn yếu, nên dân cứ dài cổ mà chờ luật cho gì mới được làm, rồi khi chưa có luật cho thì chờ các ông các bà "đầy tớ nhân dân" xét duyệt theo cái tình cảm sớm nắng chiều mưa của các vị

Như vậy chả hóa ra là: không rõ gà vịt nó thích ăn cây gì, quả gì, thôi thì cứ nhốt béng chúng nó lại cho xong chuyện. Thế là lũ gà vịt sẽ kém phẩn khởi, còi cọc, ít sinh sản vì đánh nhau tranh ăn, tranh yêu ... Những kẻ bất mãn quá lời lại bảo "người mà chả được bằng gà vịt!"

Nhưng cũng còn may, vì đói thì đầu gối phải bò. Bao cấp, ngăn sông cấm chợ theo mô hình XHCN tưởng tượng mãi tới độ cùng cực, phải "mở cửa", mới biết chỉ có hệ thống XHCN mới có lối làm luật theo kiểu "người dân chỉ được làm những gì mà luật cho phép", còn phe tư bản thì nó ngược lại, "người dân được làm những gì mà luật không cấm."

Nên năm 2000 đã có một bước ngoặt lịch sử trước hết trong hệ thống Pháp luật Việt Nam là sự ra đời nhọc nhằn của Luật Doanh nghiệp, trong đó người dân được kinh doanh những gì mà luật pháp không cấm, thay vì cả nửa thế kỷ trước (không kể miền Nam trước 1975) chỉ được kinh doanh những gì mà luật pháp cho phép.

Nhà nước công bố một danh mục các ngành nghề bị cấm, và có điều kiện. Thế là xong. Doanh nghiệp, doanh nhân tức khắc nở rộ như hoa mùa xuân, đời sống vật chất dân chúng cũng lên theo phơi phới.

Hư người

Ngoài nhu cầu vật chất, thì nhu cầu tinh thần cao gấp bội so với gà vịt, nhưng oái oăm nó lại là thứ mà nhà nước lo ngại sẽ quá đà, thậm chí là bất ổn cho chế độ. Thế nên mới sinh ra những biện pháp quản cả nhu cầu tinh thần. Đây chính là mối mâu thuẫn lớn và cũng thuộc vào loại đáng phải bàn nhất hiện nay.

Những nhu cầu tinh thần như văn thơ, phim, ảnh, ca nhạc, hoạ, sinh hoạt, lễ hội dân gian ..., tất thảy đều được quản theo lối "nhốt gà". Tỉ như không có văn bản luật quy định rằng: tất cả các tác phẩm âm nhạc, văn học ... xưa nay đều được lưu hành, trừ những thứ nằm trong danh mục kèm theo là bị cấm. Danh mục này sẽ được bổ sung định kỳ.

Mà ngược lại, các cơ quan quản lý thỉnh thoảng lại cho công bố một hai bài hát của nhạc ca sĩ nào đó thời trước 1975 ở Sài Gòn được sử dụng, hoặc có nhà xuất bản tự nhiên lại dám tái bản một cuốn sách của chế độ cũ xưa nay thuộc diện "nhạy cảm" mà không rõ dựa trên văn bản pháp luật nào mà làm được, hay lại do "lách", hoặc "liều".


Nhưng phiền hơn nữa là mỗi thời, mỗi người quản lý lại có lối suy xét, cắt gọt riêng rất tù mù (ở đây chưa muốn bàn tới chuyện tiêu cực). Như vậy tác phẩm khi tới tay bạn đọc sẽ trở thành một thứ "oẳn tà roằn" - "đầu Ngô mình Sở", không rõ cha mẹ chúng là ai.

Gà vịt ăn nhiều mà không được tung tẩy thì cũng không đến nỗi hư hỏng hay ù lì lắm. Nhưng con người mà ăn uống no say, xài xỉ tiền bạc nhiều, nhưng đời sống tinh thần không được chăm chút là sẽ sinh nhiều chuyện.

Trước hết là "rửng mỡ"-như lời các cụ hay mắng con cháu. Tức là nhẹ thì sống theo lối bóc ngắn cắn dài, nặng thì tệ nạn xã hội, ăn chơi sa đoạ, từ dân đen cho tới doanh gia và giới công quyền.

Dẫn chứng có vô vàn. Từ chuyện nông dân có tiền đền bù đất bị thu hồi, mua sắm xe máy cưỡi cho sướng, xây nhà cao ngất ngồi ngắm cho đã, rồi thì trắng tay, đói! cho tới quan chức nhiều tiền, quyền quá rồi ăn, chơi những thứ hơn cả bạo chúa ngày xưa. Con trẻ thì không có chỗ chơi, thứ đọc, xem hấp dẫn, đành chúi đầu vào cái vi tính thôi.

Vậy xin được nói nôm na và hơi trần tục là ta mới chỉ chăm chút nhau theo kiểu nông dân chăm gà vịt thôi, chứ chưa được như với con người. Trong khi người ta cứ chạy tìm quanh kẻ nào làm cho đạo đức băng hoại, con cháu ta chán nản, coi khinh cả cha ông, tìm không được thì đổ tại mở cửa mạnh quá, nọc độc tư bản tràn vào. Ai dè cái thứ nọc độc đó lại do chính ta tự tiêm chích vào mình, tự bó mình để nên nông nỗi không có nhiều những sản phẩm tinh thần đáng để thưởng lãm, nuôi dưỡng tâm hồn, rèn đạo đức, lối sống đẹp đẽ cho dân chúng.

Nên người

Cũng không phải ta chưa từng nhận ra điều này. Những năm cuối 1980, khi mới đổi mới, văn hóa văn nghệ cũng đã từng được "cởi trói". Rồi cánh cửa mới hé mở đã bị đóng sập lại (hình như có vài vị còn bị kẹp chân đau ra phết ấy chứ? Mà trí thức, văn, nghệ sĩ vốn nhạy cảm, nhút nhát. Hết cả hứng thú "thai nghén"). Rõ là ông nhà nước tính toán lại, muốn "mở" cái kinh tế đã, rồi văn hóa tinh thần thì tính sau.

Ấy vậy mà đã ngót 20 năm rồi. Vẫn còn sợ loạn nữa sao? Liệu ta có nhân lúc khó khăn về kinh tế toàn thế giới, mà ta có vùng vẫy mấy cũng khó thoát khỏi hệ quả từ mối ràng buộc chung trong thời hội nhập, để xem lại lối quản lý văn hóa tinh thần?

Nếu như có luật, hay chí ít là văn bản dưới luật, quy định rất chi tiết: thế nào là khiêu dâm, kích động bạo lực, chia rẽ dân tộc (cụ thể trong văn học, hội họa, điện ảnh...), v.v.., ngoài ra còn có hội đồng thẩm định những tác phẩm sau khi được lưu hành mà có dư luận phản ứng.

Cơ quan quản lý dựa trên phán quyết của hội đồng này mà đưa ra quyết định hành chính như phạt tiền, thu hồi; không còn theo kiểu một hai vị quan chức tự phán cho số kiếp một tác phẩm nghệ thuật, rồi ra lệnh miệng.

Tiếp nữa là có tòa án dân sự nếu ai muốn khởi kiện. Như vậy là có cái "lề đường bên phải" được vạch ra trong luật rất rõ ràng rồi, chứ không có chuyện chú cảnh sát giao thông tự vạch lề đường ở đây mỗi hôm mỗi kiểu, các văn nghệ sĩ cứ tha hồ sáng tác, xuất bản, lưu hành.

Nhất cử lưỡng tiện, lựa lúc khó khăn vật chất mà nới lỏng, chăm bẵm chút đời sống tinh thần, người dân sẽ đỡ cảm giác bức bối hơn.

Lại cũng là lúc thực trạng xã hội đã tới hồi báo động khẩn cấp về đạo đức, lối sống, loang ra đến cả quốc tế làm mất thể diện quốc gia rồi, không thể chậm trễ được nữa, phải đi tiếp một bước nữa trong đổi mới.

Nguồn: BBC Vietnamese

Thầy giáo Vũ Hùng và̉ Diễn biến vụ "Đơn xin biểu tình"




Tin mới nhận Từ Hà nội:
Ngày 26/8/2008 thầy giáo Vũ Hùng - một chiến sĩ đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt nam, đồng thời là thành viên của các tổ chức Quan sát nhân quyền Quốc tế (HRW), Ân xá quốc tế (Amnesty Int'l) và phóng viên không biên giới (RSF) đã bị gọi lên và tống đạt quyết định đuổi việc của UBND huyện Thanh Oai- TP. Hà nội , trong quyết định đưa ra những lý do hoàn toàn sai trái không chính xác và mang tính chất chụp mũ như: tự ý bỏ việc tham gia biểu tình khi chưa có sự đồng ý của cơ quan chức năng.
Rất mong quý vị và các cơ quan đấu tranh cho dân chủ nhân quyền lên tiếng trước sự đàn áp này của chính quyền độc tài đối với thầy giáo Vũ Hùng.
số điện thoại liên hệ: +84903441167.



Hải Phòng: Những diễn biến mới về vụ "Đơn xin biểu tình"

Gửi vào ngày Thứ Ba, 26 Tháng 8, 2008.
Những diễn biến mới về vụ "Đơn xin biểu tình"

Diễn biến quanh vụ "đơn xin biểu tình"

Như đã thông tin, sau khi nhận được thông báo số 148/TB- UBND, ký ngày 26/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội v/v "không cho phép tiến hành hoạt động tập trung đông người (biểu tình) ở nơi công cộng". Ngày 10/7/2008, ông Nguyễn Xuân Nghĩa và cô Phạm Thanh Nghiên đã chung đơn khiếu nại lên UBND thành phố Hà Nội và trước đó chính thức mời luật sư Lê Trần Luật (Văn phòng luật sư Pháp Quyền - TP.HCM) giúp đỡ pháp lý. Tuy nhiên, đã quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày UBND thành phố Hà Nội nhận được đơn, ông Nguyễn Xuân Nghĩa và cô Phạm Thanh Nghiên đã không nhận được "Thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết" và cũng không nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội theo qui định của pháp luật.

Xét thấy, UBND thành phố Hà Nội đã có hành vi xâm phạm đến quyền công dân của ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nghiên, vi phạm đến các giá trị tự do, dân chủ và nhân quyền nên ngày 22/8/2008, cô Phạm Thanh Nghiên đã chính thức khởi kiện lên Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội về "Hành vi hành chính " không cho phép tiến hành hoạt động tập trung đông người (biểu tình) ở nơi công cộng" trái pháp luật của UBND thành phố Hà Nội". Đơn khởi kiện của cô Phạm Thanh Nghiên đã được gửi đến Tòa Hành chính, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội.
(Chúng tôi sẽ gửi kèm dưới đây đơn khởi kiện của cô Phạm Thanh Nghiên, Biên bản giao nhận tài liệu giữa cô Nghiên và Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội).

Ngày 25/8/2008, Ông Nguyễn Xuân Nghĩa và cô Phạm Thanh Nghiên nhận được thông báo số 513 /UBND- ĐCNN, ghi ngày 21/8/2008 về việc "Giải quyết đơn của bà Phạm Thanh Nghiên và ông Nguyễn Xuân Nghĩa ở thành phố Hải Phòng khiếu nại Thông báo số 148/ TB- UBND ngày 26/6/2008 của UBND" do ông Phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký ( Thừa lệnh UBND thành phố Hà Nội). Nội dung: "UBND Thành phố giao Thanh tra Thành phố kiểm tra, kết luận giải quyết đơn của bà Phạm Thanh Nghiên và ông Nguyễn Xuân Nghĩa; báo cáo UBND Thành phố xem xét theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo".

Sau đây là các văn bản đính kèm:

PTN2-3
PTN2-4
PTN2-2
PTN2-1

Về tình trạng của cô Phạm Thanh Nghiên, ông Nguyễn Xuân Nghĩa và Luật sư Lê Trần Luật:

Sau khi thảo luận và thống nhất, Luật sư Lê Trần Luật đã quyết định sẽ tới Thành phố Hải Phòng ngày 21/8/2008 để gặp gỡ và cùng thân chủ đến Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội nạp đơn ngày hôm sau. Ngay từ ngày 16/8/2008, công an đã đặt chốt canh gác 24/24 tại nhà riêng của cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Mỗi khi đi ra khỏi nhà, họ luôn bị từ 3 đến 4 công an bám theo. Lực lượng công an mật vụ được tăng cường khi hai người ra sân bay đón Luật sư Lê Trần Luật. Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 21/8, công an Hải Phòng đã "gõ cửa" phòng khách sạn yêu cầu Luật sư phải "làm việc"với họ. Bốn công an Hải Phòng, dẫn đầu là Trung tá Nguyễn Văn Hải thuộc phòng PA25, đã "khuyên" luật sư "không nên làm vụ này". Lý do họ đưa ra vì "cô Nghiên và ông Nghĩa là những người bất đồng chính kiến với đảng cộng sản Việt Nam". Và vì, "nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ trước tới nay chưa có tiền lệ nào như thế". Luật sư Lê Trần Luật khẳng định: " Ngày mai chúng tôi vẫn đi Hà Nội để nạp đơn khởi kiện, nếu các ông muốn ngăn cản cô Nghiên và ông Nghĩa thì tôi khuyên các ông nên từ bỏ ý định. Các ông sẽ không ngăn cản được họ đâu!"

Sáng hôm sau, 22/8 công an Hải Phòng đã bám theo ba người đến tận địa phận Hải Dương. Khi đến Hà Nội, họ lại tiếp tục "được" công an Hà Nội "chăm sóc". Đến tòa, họ lại tiếp tục gặp những ...sự cố được sắp xếp. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của người đi kiện và những lý lẽ rất thông minh của luật sư, Tòa đã buộc phải nhận đơn.

Hiện nay, tư gia cô Nghiên và ông Nghĩa vẫn bị công an canh gác và theo sát mỗi khi đi ra ngoài. Văn phòng và nhà riêng của Luật sư Lê Trần Luật cũng trong tình trạng tương tự. Chúng tôi được biết, chiều 24/8, Luật sư Luật đã bị công an Sài Gòn ép xe vào lề đường khi ông đi gặp một thân chủ khác. Còn nhớ, ngày 4/7/2008, cô Phạm Thanh Nghiên đã bị công an Hải Phòng ép xe, hành hung ngay trên đường phố sau khi làm đơn xin phép biểu tình. Với những diễn biến trên, chúng tôi rất quan tâm đến sự an toàn của những người này. Chúng tôi kêu gọi các Tổ chức nhân quyền, các cơ quan đoàn thể, các cá nhân quan tâm đến nền Dân chủ của Việt Nam lên tiếng và giúp đỡ.

Nguồn: Tiếng dân kêu

LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO PHẠM BÁ HẢI TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM




Phạm Bá Hải (người bên trái)

CÔNG LÝ & SỰ THẬT

Thưa HĐXX!

Tôi, Luật sư Lê Trần Luật, người được TAND TC chấp thuận bào chữa cho nhà hoạt động vì dân chủ Phạm Bá Hải.

Sở dĩ tôi không gọi Phạm Bá Hải là bị cáo mà gọi là nhà hoạt động dân chủ vì tôi tin rằng những hành động của anh vừa bị cấp sơ thẩm buộc tội là những hành động không phạm tội nếu không muốn nói là sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho tiến trình phát triển dân chủ ở Việt Nam. Mà một xã hội dân chủ là ước muốn của dân tộc Việt Nam và là bản chất, là mục tiêu của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Thưa HĐXX!

Trước hết tôi muốn cùng VKS làm sáng tỏ:

I- Như thế nào là chống NN CHXHCN Việt Nam?

Tôi bắt đầu biện hộ cho anh Phạm Bá Hải bằng cách tranh luận với VKS về khái niệm pháp lý: “Nhà nước XHCN Việt Nam” và như thế nào được gọi là “chống Nhà nước XHCN Việt Nam”. Tôi xin nhắc lại là tôi muốn tranh luận ở góc độ pháp lý về khái niệm này. Tôi không tìm thấy bất kỳ văn bản hướng dẫn nào của Tòa án tối cao cũng như của Quốc Hội giải thích thuật ngữ pháp lý “chống Nhà nước XHCN Việt Nam” được biểu hiện bằng hành vi cụ thể ra sao và nội dung biểu hiện của nó như thế nào? Cần nhắc lại rằng, một trong những yếu tố cấu thành tội phạm đó là khách thể hay còn gọi là quan hệ pháp luật bị xâm phạm. Vì vậy VKS phải chỉ ra cho được ở Điều 88 này thì hành vi của Phạm Bá Hải đã xâm phạm vào quan hệ xã hội nào, hay nhóm quan hệ xã hội nào?

Thưa HĐXX!

Để tiếp tục biện minh cho hành vi của Phạm Bá Hải, tôi thấy cần thiết phải nêu ra khái niệm pháp lý “Nhà nước CHXHCN Việt Nam” nên được hiểu như thế nào cho đầy đủ.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 xóa bỏ chế độ phong kiến, chấm dứt hẳn cơ chế “truyền ngôi thế tập” để xây dựng một Nhà nước dân chủ, mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân thông qua cơ chế bầu cử, lấy tiêu chí dân chủ, công bằng, văn minh, đời sống ấm no làm mục đích. Với tiêu chí và mục đích như vậy, các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã cương quyết đi theo đường lối tư tưởng của Mác - Lênin để xây dựng một Nhà nước được gọi là Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Như vậy, trước hết, khái niệm Nhà nước XHCN nói chung và Nhà nước XHCN Việt Nam nói riêng là một hệ thống tư tưởng.

Theo tôi, hệ thống tư tưởng này được biểu hiện ra thế giới khách quan ở 2 nội dung cơ bản, đó là: hệ thống chính trị, hệ thống bộ máy Nhà nước và các hoạt động của 2 hệ thống này. Trong nhiều văn kiện của Đại hội Đảng CSVN cũng đã từng thừa nhận sự khiếm khuyết trong quá trình vận động các hệ thống này và nhất thiết phải chỉnh đốn để hoàn thiện, để phù hợp với nhu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam là mong muốn một đời sống ấm no, dân chủ, hạnh phúc. Trong sự vận động của các hệ thống này chắc chắn chứa đựng những nhân tố, những yếu tố cản trở sự hoàn thành mục tiêu nêu trên của nhà nước CHXHCNVN.

Việc phản kháng và chống lại những nhân tố, yếu tố cản trở đó liệu có phải là chống lại Nhà nước CHXCN Việt Nam hay không?

Sở dĩ tôi đưa ra lập luận này và yêu cầu Kiểm sát phải chỉ ra được những quan hệ pháp luật nào bị xâm phạm bởi vì khái niệm Nhà nước là một khái niệm cực kỳ trừu tượng mà tôi chắc rằng tôi và VKS cũng chưa thật sự hiểu được một cách thấu đáo. Mặt khác điều 88 BLHS là một điều luật hết sức tù mù, khó hiểu mà chúng ta lại không có văn bản hướng dẫn của Tòa án tối cao hay Quốc Hội về các khái niệm pháp lý trong tội này thì chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng chủ quan, quy kết và “chụp mũ”.

Nếu quý VKS muốn quy kết hành vi của Phạm Bá Hải là chống Nhà nước CHXHCN VN thì phải chỉ rõ được quan hệ pháp luật nào đã bị xâm phạm.

Việc chỉ ra quan hệ pháp luật nào được gọi là chống Nhà nước sẽ làm sáng tỏ ý thức về mặt chủ quan của Phạm Bá Hải có chống Nhà nước XHCN Việt Nam hay không mà tôi sẽ trình bày ở phần kế tiếp.

.

Thưa HĐXX!

Tiếp theo tôi đi sâu vào phân tích các hành vi cụ thể của Phạm Bá Hải và tổ chức Bạch Đằng Giang:

II - Hành vi của Phạm Bá Hải không nhằm chống lại NN CHXHCNVN mà chỉ chống lại những nhân tố, những yếu tố đang cản trở sự tiến bộ xã hội.

Cấp sơ thẩm đã tuyên buộc Phạm Bá Hải tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam dựa vào chuỗi hành vi sau đây:

1- Thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với 4 nhiệm vụ:

a. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, cung cấp cho quần chúng sự thật về sự phát triển của đất nước. Cổ vũ, ủng hộ và truyền bá mọi phong trào, tư tưởng dân chủ tự do;

b. Ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi công nhân, đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng;

c. Cung cấp học bổng cho con em những người trốn đi nước ngoài buộc phải hồi hương mà tổ chức Bạch Đằng Giang gọi là “nạn nhân sự kỳ thị, phân biệt và ngược đãi” nhằm đào tạo, xây dựng một thế hệ trẻ mới;

d. Hoạt động nhân đạo để khích lệ vật chất và tinh thần cho số thương phế binh ngụy và mọi thành phần, cá nhân là nạn nhân của bạo quyền Cộng sản.

2- Viết những bài sau: “Thư viết cho Hòa thượng Thích Mãn Giác tại Hoa Kỳ ngày 17/3/2005” (Bản án sơ thẩm cho rằng trong thư đề cập đến việc Phạm Bá Hải “bị đuổi khỏi trường Luật, bị giam giữ 6 tháng tại Công an Thủ Đức” là không đúng sự thật), “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, “Cơ hội vượt lên đã bị tước 1954 - 1975”, “Thống nhất đất nước, cơ hội nghìn vàng cho phát triển”, “Tiến lên CNXH, 10 năm để tìm ra đấu mối dây trói”, “Những gì có thể cứu vãn từ hôm nay”.

3- Tham gia vào khối 8406.

Tôi cho rằng cấp sơ thẩm đã không chứng minh được ý thức chủ quan của Phạm Bá Hải là nhằm chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Theo tôi, về mặt chủ quan Phạm Bá Hải chỉ có ý thức phản kháng và chống lại những yếu tố đã cản trở tiến trình phát triển của đất nước Việt Nam.

Trước hết, tôi xin đặt câu hỏi với VKS trong hệ thống pháp luật VN có điều khoản nào cấm thành lập tổ chức hay không? Nếu không, tôi tiếp tục phân tích:

1) Việc thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với 4 nhiệm vụ như bản án sơ thẩm liệt kê mà tôi đã trình bày lại ở phần trên không thấy có nhiệm vụ nào nhằm chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Chẳng lẽ “cung cấp cho quần chúng sự thật về sự phát triển của đất nước. Cổ vũ, ủng hộ và truyền bá mọi phong trào, tư tưởng dân chủ tự do” là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam? Tư tưởng tự do dân chủ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam hướng tới. Vậy hà cớ gì hành động cổ vũ cho tư tưởng dân chủ tự do lại bị xem là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam?

- Ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi công nhân, đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng. Trước hết trong nguyên bản mục tiêu của tổ chức Bạch Đằng Giang đăng công khai tại địa chỉ www.bachdanggiang.org ghi rõ “đi đến thay thế độc tài độc đảng bằng “đa nguyên dân chủ tự do”, hoàn toàn không có câu “đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng” (Bút lục 0060, 0061). Rõ ràng cấp sơ thẩm đã tự ý thay thế cụm từ “thay thế độc tài độc đảng” bằng cụm từ “thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Đó là sự cố tình bịa đặt để gán ghép cho Phạm Bá Hải và tổ chức Bạch Đằng Giang về ý thức chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Trở lại vấn đề ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi của công đoàn công nhân. Tôi xin được nhắc lại rằng Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng và Nhà nước CHXHCN nói chung đều dựa vào nền tảng các quyền lợi của giai cấp công nhân. Như vậy việc thành lập công đoàn độc lập và bênh vực quyền lợi công nhân chính là ủng hộ Nhà nước CHXHCN Việt Nam chứ không phải chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam như cấp sơ thẩm đã qui kết.

- Việc kêu gọi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng, theo tôi đây chỉ đơn thuần là một giải pháp cho tiến trình dân chủ hóa đất nước. Các vị lãnh đạo của Nhà nước ta cho rằng chỉ cần 1 Đảng CS lãnh đạo là đủ, đây cũng là 1 giải pháp. Đưa ra 1 giải pháp cho 1 tiến trình dân chủ không phải là nhằm mục đích chống lại Nhà nước CHXHCN VN. Cần nhắc lại rằng khi xóa bỏ chế độ phong kiến truyền ngôi thế tập, các vị lãnh đạo của ta đã mong muốn xây dựng 1 chế độ dân chủ mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân thông qua cơ chế bầu cử để người dân thực hiện quyền lực của mình. Tôi không bình luận về việc đa nguyên, đa đảng là đúng hay sai nhưng tôi cho rằng đa nguyên, đa đảng không phải là 1 giải pháp không có lý.

- Việc cấp học bổng và hỗ trợ cho thương phế binh đơn thuần là một hoạt động nhân đạo của một tổ chức, thiết nghĩ không cần bình luận thêm thì VKS và HĐXX cũng dễ dàng nhận ra.

Bản kết luận điều tra bổ sung số 145/ANTĐ ngày 12/9/2007 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an cho rằng Phạm Bá Hải cấp học bổng là “nhằm mục đích đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ để thay thế các đồng chí lãnh đạo của Đảng CSVN đối với đất nước” là sự suy diễn chủ quan. Nó thể hiện tư duy bảo thủ, trì trệ, tham quyền cố vị và phản khoa học của Cơ quan ANĐT Bộ Công an. Bất cứ ai, kể cả lãnh đạo, đều cũng phải già và chết đi, “tre già măng mọc” là quy luật tiến hóa của xã hội. Nếu lớp trẻ do Phạm Bá Hải cấp học bổng đào tạo có tài năng, đạo đức xứng đáng lãnh đạo đất nước thì đó là việc rất tốt, đáng mừng, là phúc phận của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu xây dựng đất nước của Chính phủ Việt Nam là tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì người có đầy đủ tài năng, đức độ hà cớ gì lại không được thay thế các vị lãnh đạo Đảng CSVN để tiếp tục lãnh đạo đất nước?

Như vậy, việc thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với những nhiệm vụ đã nêu trên theo tôi là hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ chớ không nhằm hướng tới chống lại Nhà nước XHCN VN.

2) Cấp sơ thẩm nhận định Phạm Bá Hải có 6 bài viết và dựa vào kết luận giám định của ông Nguyễn Minh Nghiệp để quy kết rằng Phạm Bá Hải có ý thức chủ quan là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam là không thỏa đáng bởi lẽ:

- Thư viết cho Hòa thượng Thích Mãn Giác là thư trao đổi giữa cá nhân với cá nhân, được thu giữ tại nhà riêng (hoặc in từ máy vi tính của Phạm Bá Hải, tài liệu điều tra không nêu rõ, Bút lục 0140). Đây là thư cá nhân của Phạm Bá Hải trao đổi với Hòa thượng Thích Mãn Giác, do vậy người viết thư có thể viết gì tùy thích, thậm chí có thể hư cấu thêm nhiều tình tiết không có thật, v.v… không lý gì một lá thư cá nhân lại phải viết đúng đường lối, chính sách của nhà cầm quyền. Tôi thật sự không hiểu nổi 1 lá thư riêng của một cá nhân lại bị coi là chống Nhà nước.

- 5 bài viết còn lại thì chỉ duy nhất tên bài “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc” có đưa vào hồ sơ vụ án và được trưng cầu giám định, còn nội dung những bài này thì không thấy đưa vào, không biết viết những gì, trong phầm thẩm vấn công khai tại tại phiên tòa cấp sơ thẩm cũng không đề cập tới nội dung các bài viết này là gì, không làm sáng tỏ viết sai chổ nào, thì lấy căn cứ nào cho rằng nội dung những bài viết trên là sai trái?

- Trong bài viết: “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, Phạm Bá Hải cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa và ải Nam Quan là một phần lãnh thổ VN. Phạm Bá Hải đã đau xót khi một phần đất nước của mình bị về tay nước khác giống như anh đau xót khi bị mất một phần thân thể của mình. Cũng cần nhắc lại rằng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của chúng ta thì Trung Quốc là một trong những nước xâm chiếm đất nước ta nhiều nhất. Chắc điều này VKS là người biết rõ hơn. Đau xót khi một phần đất nước về tay một nước khác lẽ nào lại bị xem là chống Nhà nước XHCN Việt Nam?

- 5 bài viết còn lại không thấy cấp sơ thẩm đề cập. Do vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 184 BLTTHS là “Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa”, 5 bài viết trên không được đưa ra xem xét tại phiên tòa sơ thẩm nên không thể coi là chứng cứ buộc tội Phạm Bá Hải.

Mặt khác, cấp sơ thẩm dựa vào kết luận giám định số 123/KLGĐTP ngày 25/10/2006 của ông Nguyễn Minh Nghiệp để buộc tội Phạm Bá Hải là không khách quan:

- Về hình thức: Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP này không hợp pháp bởi ông Nguyễn Minh Nghiệp ký tên với tư cách là Giám định viên chịu trách nhiệm giám định nhưng không thấy có Quyết định bổ nhiệm ông Nghiệp là Giám định viên tư pháp của UBND Thành phố HCM hoặc xác nhận chữ ký Giám định viên của UBND Thành phố nên không chứng minh được tư cách Giám định viên của ông Nghiệp. Xác nhận chữ ký ông Nguyễn Minh Sơn (là người giao nhận) của Phòng Kiểm tra văn hóa phẩm xuất nhập khẩu thuộc Sở VH-TT TP HCM là tư cách Phó Phòng kiểm tra VHPXNK, không phải tư cách Giám định viên. Vì vậy, Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP không có giá trị dùng làm chứng cứ buộc tội. (Khoản 3 Điều 9 Pháp lệnh Giám định tư pháp).

Cần nói thêm rằng, Sở VH-TT TP HCM là một cơ quan Nhà nước, một bộ phận cấu thành trong hệ thống bộ máy Nhà nước thì giám định kết luận về một vấn đề mà chính mình là đối tượng bị “chống” thì rõ ràng là không khách quan. Lẽ ra, Cơ quan ANĐT Bộ Công an phải “trưng cầu cá nhân, tổ chức giám định nước ngoài” độc lập (khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh GĐTP) chớ không phải từ cấp Cục “trưng cầu ngược” xuống cấp dưới là cán bộ Sở VH-TT TP HCM.

- Về nội dung: Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP kết luận: “Đây là một tài liệu xấu, bài viết có tư tưởng kích động, kêu gọi bằng ngôn ngữ chính trị có tính chất lật đổ, tác động xấu đến tính ổn định xã hội của công cuộc đổi mới, gây hại đến tình hình an ninh quốc gia, vi phạm pháp luật Việt Nam. Tài liệu cho thấy tính chất nguy hiểm của một khuynh hướng chống đối được cấu trúc chặt chẽ bởi một tổ chức, một hệ thống có quy mô lớn, có quan hệ với một thế lực phản động ở nước ngoài, de dọa một cách thực tế lên an ninh quốc gia, sự an toàn xã hội”. Rõ ràng, đây là nhận định có tính chất suy diễn theo ý chí chủ quan của ông Nguyễn Minh Nghiệp, vì ông Nghiệp chỉ lặp đi lặp lặp lại được mấy từ “xuyên tạc”, “nói xấu”, “tài liệu xấu”… mà không chỉ ra được cụ thể câu nào “xuyên tạc” sai sự thật, “xấu” chổ nào, sự thật việc ấy ra sao, xâm hại đến tính ổn định xã hội ở chổ nào, hậu quả thế nào. Ông Nghiệp còn tự cho mình thay quyền cơ quan tố tụng kết luận rằng “hệ thống có quy mô lớn, có quan hệ với một thế lực phản động ở nước ngoài” mà không viện dẫn được “thế lực phản động ở nước ngoài” đó là “thế lực” nào? Cuối cùng, ông Nghiệp cũng chỉ nói chung chung là vi phạm Luật Báo Chí, Nghị định 55/NĐ-CP mà không chỉ ra được vi phạm cụ thể vào điểm, khoản, Điều nào của hai văn bản đó.

Tuy bản án sơ thẩm không nêu rõ về loạt bài viết “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, nhưng được nêu trong Bản Kết Luận Điều Tra Bổ Sung nên tôi phân tích thêm:

Bài 1: “Cơ hội vượt lên đã bị tước, 1954 - 1975”.

Cơ quan tố tụng cho rằng Phạm Bá Hải “xuyên tạc thành quả đấu tranh giải phóng dân tộc” thông qua câu:

Sự hiếu chiến và tàn bạo của CSVN đã gây ra cho đồng bào miền Bắc ra sao suốt 30 năm, lịch sử đã ghi rõ. CSVN sao không để đồng bào miền Nam, với bối cảnh tương tự, chăm lo phát triển kinh tế, chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”. Câu đầu Phạm Bá Hải chỉ nói là lịch sử sẽ ghi nhận, không nhận định, không bình luận gì nên không thể suy diễn là “xuyên tạc”. Câu sau, bằng cách dùng từ nghi vấn “sao không” là Phạm Bá Hải đặt ra giả thiết giả dụ về một giai đoạn xã hội, cũng không khẳng định điều gì thì càng không thể quy kết là tác giả xuyên tạc sự thật.

Bài 2: “Thống nhất đất nước - cơ hội nghìn vàng cho phát triển?”

Bị coi là “xuyên tạc sự phát triển kinh tế, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” căn cứ vào đoạn: “Năm 1986 chế độ XHCN đánh dấu sự bần cùng của người dân bằng siêu lạm phát đạt kỷ lục thế giới 777,7%. Đâu rồi những thành tựu xây dựng XHCN ở miền Bắc?”.

Có lẽ cơ quan tố tụng quên rằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam được coi là Đại Hội đầu tiên mở ra thời kỳ đổi mới nền kinh tế Việt Nam. Vì sao phải đổi mới? Vì nền kinh tế lúc đó bị khủng hoảng nghiêm trọng, Nhà nước Việt Nam phải chọn lựa giữa 2 con đường “đổi mới hay là chết”, và Đại hội VI đã lựa chọn con đường đổi mới.

Nghị quyết Đại hội VI nhận định: “tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.”, “chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông”.

Do đó, Nghị quyết Đại hội VI đề ra phương hướng: “Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách về cung ứng vật tư, lưu thông hàng hoá, giá, thuế, tín dụng, tiền lương... nhằm khuyến khích các cơ sở và công nhân, nông dân, thợ thủ công hăng hái phát triển sản xuất”. “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế”.

Những trích dẫn từ Văn kiện Đại hội VI ở trên cho thấy Phạm Bá Hải viết đúng thực tế xã hội Việt Nam thời điểm năm 1986 nên cáo buộc “xuyên tạc sự phát triển kinh tế, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” là vô căn cứ.

Bài 3: “Tiến lên XHCN - Mười năm để tìm ra đầu mối dây trói” bị cho là “xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế đất nước” có đoạn: “Dân lành được cải thiện đời sống nhiều hay ít, bị kìm kẹp và được giải phóng đến mức độ nào, 30 năm qua và thời gian tới, phụ thuộc vào tay những người CSVN. Họ có nghĩ cơ hội dù muộn màng này là cơ hội lớn của dân tộc hay không, mà thả sức dân, rửa nỗi nhục triền miên nỗi nhục”. Câu đầu từ “Dân lành… đến người CSVN” là nhận định hoàn toàn đúng đắn của Phạm Bá Hải về tình hình thực tế Việt Nam. Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước Việt Nam thì người dân phụ thuộc vào những người CSVN là đúng, chớ chẳng lẽ lại phụ thuộc vào những tay tư bản nước ngoài? Ở câu sau, từ “Họ” là đề chỉ những người CS, người viết đặt câu hỏi là tại sao không “thả sức dân”? Đừng bắt dân làm việc mà dân chưa kham nổi, “khoan sức dân là kế sâu rễ bền gốc” cũng là ý của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã viết trong “Hịch Tướng Sĩ”. Nếu suy diễn rằng đòi hỏi “khoan sức dân” mà là xuyên tạc đường lối thì hóa ra Hưng Đạo Vương cũng là người “xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế” của vua Trần?

Bài 4: “Những gì có thể cứu vãn hôm nay” bị quy kết là “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” qua câu: “Truyền hình CS phải chiếu những phim ảnh của họ để đáp ứng thị hiếu của người dân, bên cạnh ca nhạc, thời trang, v.v… Văn hóa Đảng, phim ảnh tuyên truyền đã làm cho đời sống tinh thần người dân què quặt, mất thăng bằng. Kết quả bi đát ấy là hàng chục ngàn cô gái Việt Nam đi làm dâu xứ người, chịu đựng không biết bao nhiêu tủi nhục trên đất Đài Loan, Hàn Quốc..”, “Giải pháp kinh tế triệt để để rút ngắn khoảng cách cách biệt, xóa dần nỗi quốc nhục; giải pháp chính trị triệt để để duy trì tính hiệu quả và phát huy hết tiềm lực quốc gia. Chương trình hành động của người dân của người dân yêu nước hôm nay là theo tiếng gọi của các nhà Dân Chủ, đòi đa nguyên đa đảng và tổng tuyển cử tự do”.

Trong câu trích dẫn này, Bản KLĐTBS đã cắt bỏ câu đầu là “Nỗi nhục của nước CHXHCN VN là thua kém và lạc hậu, cái thua kém đè nặng lên lương tri trí thức yêu nước, cái lạc hậu vây kín dân lành và người nghèo” mà chỉ lấy mệnh đề tiếp theo phía sau, làm câu văn trở thành tối nghĩa, sai lạc ý của người viết.

Việc “hàng chục ngàn cô gái Việt Nam đi làm dâu xứ người”, phải sống cảnh nô lệ tình dục, bị đánh đập, thậm chí bị giết chết dã man… là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận. Nói lên một thực trạng xã hội Việt Nam mà ai cũng biết thì không phải là “nói xấu Đảng”. Thực tế không thể chối cãi là kinh tế nước ta không thể phát triển bằng Đài Loan, Hàn Quốc, chúng ta lạc hậu hơn họ, dân ta nghèo hơn dân họ. Nói chúng ta cảm thấy nhục với những nước có cùng điều kiện, hoàn cảnh như ta nhưng họ phát triển, văn minh hơn ta là hoàn toàn đúng. Chẳng lẽ chúng ta lại tự hào, hãnh diện vì nước mình thua kém và lạc hậu hơn nước khác hay sao?

Bộ Luật Hình Sự không có tội danh nào quy định hành vi “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” nên “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” (nếu có) cũng không phải là chống Nhà nước XHCN.

Xét về tổng thể toàn bộ các bài viết của Phạm Bá Hải thì tình tiết, số liệu về tình hình kinh tế VN đưa vào dẫn chứng trong bài viết đều chính xác. Khi đánh giá một tác phẩm chúng ta phải đánh giá trên cơ sở toàn diện, khách quan, chớ không được quyền cắt khúc câu chữ ra khỏi bối cảnh chung của bài viết rồi suy diễn sai lạc theo ý người đọc như Bản kết luận giám định và Bản KLĐTBS đã làm.

Do đó, có thể khẳng định rằng, những bài viết trên là dựa trên sự kiện chính xác, thể hiện tư tưởng phản kháng của Phạm Bá Hải đối với những nhân tố, yếu tố cản trở sự tiến bộ xã hội chớ không nhằm mục đích chống Nhà nước XHCN VN.

3- Hành vi tham gia vào Khối 8406:

Tại Quyết định số 127/2007/QĐ-THS ngày 19/7/2007 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh “hoạt động của 8406 chống chính quyền nhân dân như thế nào?” thì Bản kết luận điều tra bổ sung số 145/ANTĐ ngày 12/9/2007 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào.

Tại phiên tòa hôm nay, nếu VKS chỉ ra được tài liệu, chứng cứ thể hiện được kết luận hoạt động của khối 8406 là nhằm chống Nhà nước XHCN Việt Nam, tài liệu đã được Chính phủ Việt Nam công bố một cách công khai hay chưa, nếu có thì tôi đồng ý rằng Phạm Bá Hải đã có mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nếu VKS không cung cấp thêm được chứng cứ mới thì hành vi này đương nhiên không phạm vào tội tuyên truyền chống NN CHXHCN VN.

.

Thưa HĐXX!

Từ những lập luận đã trình bày ở trên, tôi kính đề nghị HĐXX tuyên bố Phạm Bá Hải không phạm tội tuyên truyền chống NN CHXHCN VN. Để cùng VKS làm sáng tỏ hành vi của Phạm Bá Hải, tôi tóm tắt 4 vấn đề chính để tranh luận:

- Như thế nào là chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam?

- Hành vi thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang và viết bài của Phạm Bá Hải có nhằm mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam hay không?

- Hành vi tham gia vào khối 8406 có nhằm mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam hay không?

- Kết luận giám định có khách quan hay không?

Xin cảm ơn HĐXX đã lắng nghe tôi trình bày!

.

Luật sư LÊ TRẦN LUẬT

LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO PHẠM BÁ HẢI TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM




Phạm Bá Hải (người bên trái)

CÔNG LÝ & SỰ THẬT

Thưa HĐXX!

Tôi, Luật sư Lê Trần Luật, người được TAND TC chấp thuận bào chữa cho nhà hoạt động vì dân chủ Phạm Bá Hải.

Sở dĩ tôi không gọi Phạm Bá Hải là bị cáo mà gọi là nhà hoạt động dân chủ vì tôi tin rằng những hành động của anh vừa bị cấp sơ thẩm buộc tội là những hành động không phạm tội nếu không muốn nói là sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho tiến trình phát triển dân chủ ở Việt Nam. Mà một xã hội dân chủ là ước muốn của dân tộc Việt Nam và là bản chất, là mục tiêu của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Thưa HĐXX!

Trước hết tôi muốn cùng VKS làm sáng tỏ:

I- Như thế nào là chống NN CHXHCN Việt Nam?

Tôi bắt đầu biện hộ cho anh Phạm Bá Hải bằng cách tranh luận với VKS về khái niệm pháp lý: “Nhà nước XHCN Việt Nam” và như thế nào được gọi là “chống Nhà nước XHCN Việt Nam”. Tôi xin nhắc lại là tôi muốn tranh luận ở góc độ pháp lý về khái niệm này. Tôi không tìm thấy bất kỳ văn bản hướng dẫn nào của Tòa án tối cao cũng như của Quốc Hội giải thích thuật ngữ pháp lý “chống Nhà nước XHCN Việt Nam” được biểu hiện bằng hành vi cụ thể ra sao và nội dung biểu hiện của nó như thế nào? Cần nhắc lại rằng, một trong những yếu tố cấu thành tội phạm đó là khách thể hay còn gọi là quan hệ pháp luật bị xâm phạm. Vì vậy VKS phải chỉ ra cho được ở Điều 88 này thì hành vi của Phạm Bá Hải đã xâm phạm vào quan hệ xã hội nào, hay nhóm quan hệ xã hội nào?

Thưa HĐXX!

Để tiếp tục biện minh cho hành vi của Phạm Bá Hải, tôi thấy cần thiết phải nêu ra khái niệm pháp lý “Nhà nước CHXHCN Việt Nam” nên được hiểu như thế nào cho đầy đủ.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 xóa bỏ chế độ phong kiến, chấm dứt hẳn cơ chế “truyền ngôi thế tập” để xây dựng một Nhà nước dân chủ, mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân thông qua cơ chế bầu cử, lấy tiêu chí dân chủ, công bằng, văn minh, đời sống ấm no làm mục đích. Với tiêu chí và mục đích như vậy, các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã cương quyết đi theo đường lối tư tưởng của Mác - Lênin để xây dựng một Nhà nước được gọi là Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Như vậy, trước hết, khái niệm Nhà nước XHCN nói chung và Nhà nước XHCN Việt Nam nói riêng là một hệ thống tư tưởng.

Theo tôi, hệ thống tư tưởng này được biểu hiện ra thế giới khách quan ở 2 nội dung cơ bản, đó là: hệ thống chính trị, hệ thống bộ máy Nhà nước và các hoạt động của 2 hệ thống này. Trong nhiều văn kiện của Đại hội Đảng CSVN cũng đã từng thừa nhận sự khiếm khuyết trong quá trình vận động các hệ thống này và nhất thiết phải chỉnh đốn để hoàn thiện, để phù hợp với nhu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam là mong muốn một đời sống ấm no, dân chủ, hạnh phúc. Trong sự vận động của các hệ thống này chắc chắn chứa đựng những nhân tố, những yếu tố cản trở sự hoàn thành mục tiêu nêu trên của nhà nước CHXHCNVN.

Việc phản kháng và chống lại những nhân tố, yếu tố cản trở đó liệu có phải là chống lại Nhà nước CHXCN Việt Nam hay không?

Sở dĩ tôi đưa ra lập luận này và yêu cầu Kiểm sát phải chỉ ra được những quan hệ pháp luật nào bị xâm phạm bởi vì khái niệm Nhà nước là một khái niệm cực kỳ trừu tượng mà tôi chắc rằng tôi và VKS cũng chưa thật sự hiểu được một cách thấu đáo. Mặt khác điều 88 BLHS là một điều luật hết sức tù mù, khó hiểu mà chúng ta lại không có văn bản hướng dẫn của Tòa án tối cao hay Quốc Hội về các khái niệm pháp lý trong tội này thì chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng chủ quan, quy kết và “chụp mũ”.

Nếu quý VKS muốn quy kết hành vi của Phạm Bá Hải là chống Nhà nước CHXHCN VN thì phải chỉ rõ được quan hệ pháp luật nào đã bị xâm phạm.

Việc chỉ ra quan hệ pháp luật nào được gọi là chống Nhà nước sẽ làm sáng tỏ ý thức về mặt chủ quan của Phạm Bá Hải có chống Nhà nước XHCN Việt Nam hay không mà tôi sẽ trình bày ở phần kế tiếp.

.

Thưa HĐXX!

Tiếp theo tôi đi sâu vào phân tích các hành vi cụ thể của Phạm Bá Hải và tổ chức Bạch Đằng Giang:

II - Hành vi của Phạm Bá Hải không nhằm chống lại NN CHXHCNVN mà chỉ chống lại những nhân tố, những yếu tố đang cản trở sự tiến bộ xã hội.

Cấp sơ thẩm đã tuyên buộc Phạm Bá Hải tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam dựa vào chuỗi hành vi sau đây:

1- Thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với 4 nhiệm vụ:

a. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, cung cấp cho quần chúng sự thật về sự phát triển của đất nước. Cổ vũ, ủng hộ và truyền bá mọi phong trào, tư tưởng dân chủ tự do;

b. Ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi công nhân, đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng;

c. Cung cấp học bổng cho con em những người trốn đi nước ngoài buộc phải hồi hương mà tổ chức Bạch Đằng Giang gọi là “nạn nhân sự kỳ thị, phân biệt và ngược đãi” nhằm đào tạo, xây dựng một thế hệ trẻ mới;

d. Hoạt động nhân đạo để khích lệ vật chất và tinh thần cho số thương phế binh ngụy và mọi thành phần, cá nhân là nạn nhân của bạo quyền Cộng sản.

2- Viết những bài sau: “Thư viết cho Hòa thượng Thích Mãn Giác tại Hoa Kỳ ngày 17/3/2005” (Bản án sơ thẩm cho rằng trong thư đề cập đến việc Phạm Bá Hải “bị đuổi khỏi trường Luật, bị giam giữ 6 tháng tại Công an Thủ Đức” là không đúng sự thật), “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, “Cơ hội vượt lên đã bị tước 1954 - 1975”, “Thống nhất đất nước, cơ hội nghìn vàng cho phát triển”, “Tiến lên CNXH, 10 năm để tìm ra đấu mối dây trói”, “Những gì có thể cứu vãn từ hôm nay”.

3- Tham gia vào khối 8406.

Tôi cho rằng cấp sơ thẩm đã không chứng minh được ý thức chủ quan của Phạm Bá Hải là nhằm chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Theo tôi, về mặt chủ quan Phạm Bá Hải chỉ có ý thức phản kháng và chống lại những yếu tố đã cản trở tiến trình phát triển của đất nước Việt Nam.

Trước hết, tôi xin đặt câu hỏi với VKS trong hệ thống pháp luật VN có điều khoản nào cấm thành lập tổ chức hay không? Nếu không, tôi tiếp tục phân tích:

1) Việc thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với 4 nhiệm vụ như bản án sơ thẩm liệt kê mà tôi đã trình bày lại ở phần trên không thấy có nhiệm vụ nào nhằm chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Chẳng lẽ “cung cấp cho quần chúng sự thật về sự phát triển của đất nước. Cổ vũ, ủng hộ và truyền bá mọi phong trào, tư tưởng dân chủ tự do” là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam? Tư tưởng tự do dân chủ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam hướng tới. Vậy hà cớ gì hành động cổ vũ cho tư tưởng dân chủ tự do lại bị xem là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam?

- Ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi công nhân, đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng. Trước hết trong nguyên bản mục tiêu của tổ chức Bạch Đằng Giang đăng công khai tại địa chỉ www.bachdanggiang.org ghi rõ “đi đến thay thế độc tài độc đảng bằng “đa nguyên dân chủ tự do”, hoàn toàn không có câu “đi đến thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xây dựng chế độ đa nguyên, đa đảng” (Bút lục 0060, 0061). Rõ ràng cấp sơ thẩm đã tự ý thay thế cụm từ “thay thế độc tài độc đảng” bằng cụm từ “thay thế Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Đó là sự cố tình bịa đặt để gán ghép cho Phạm Bá Hải và tổ chức Bạch Đằng Giang về ý thức chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Trở lại vấn đề ủng hộ thành lập công đoàn độc lập bênh vực quyền lợi của công đoàn công nhân. Tôi xin được nhắc lại rằng Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng và Nhà nước CHXHCN nói chung đều dựa vào nền tảng các quyền lợi của giai cấp công nhân. Như vậy việc thành lập công đoàn độc lập và bênh vực quyền lợi công nhân chính là ủng hộ Nhà nước CHXHCN Việt Nam chứ không phải chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam như cấp sơ thẩm đã qui kết.

- Việc kêu gọi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng, theo tôi đây chỉ đơn thuần là một giải pháp cho tiến trình dân chủ hóa đất nước. Các vị lãnh đạo của Nhà nước ta cho rằng chỉ cần 1 Đảng CS lãnh đạo là đủ, đây cũng là 1 giải pháp. Đưa ra 1 giải pháp cho 1 tiến trình dân chủ không phải là nhằm mục đích chống lại Nhà nước CHXHCN VN. Cần nhắc lại rằng khi xóa bỏ chế độ phong kiến truyền ngôi thế tập, các vị lãnh đạo của ta đã mong muốn xây dựng 1 chế độ dân chủ mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân thông qua cơ chế bầu cử để người dân thực hiện quyền lực của mình. Tôi không bình luận về việc đa nguyên, đa đảng là đúng hay sai nhưng tôi cho rằng đa nguyên, đa đảng không phải là 1 giải pháp không có lý.

- Việc cấp học bổng và hỗ trợ cho thương phế binh đơn thuần là một hoạt động nhân đạo của một tổ chức, thiết nghĩ không cần bình luận thêm thì VKS và HĐXX cũng dễ dàng nhận ra.

Bản kết luận điều tra bổ sung số 145/ANTĐ ngày 12/9/2007 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an cho rằng Phạm Bá Hải cấp học bổng là “nhằm mục đích đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ để thay thế các đồng chí lãnh đạo của Đảng CSVN đối với đất nước” là sự suy diễn chủ quan. Nó thể hiện tư duy bảo thủ, trì trệ, tham quyền cố vị và phản khoa học của Cơ quan ANĐT Bộ Công an. Bất cứ ai, kể cả lãnh đạo, đều cũng phải già và chết đi, “tre già măng mọc” là quy luật tiến hóa của xã hội. Nếu lớp trẻ do Phạm Bá Hải cấp học bổng đào tạo có tài năng, đạo đức xứng đáng lãnh đạo đất nước thì đó là việc rất tốt, đáng mừng, là phúc phận của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu xây dựng đất nước của Chính phủ Việt Nam là tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì người có đầy đủ tài năng, đức độ hà cớ gì lại không được thay thế các vị lãnh đạo Đảng CSVN để tiếp tục lãnh đạo đất nước?

Như vậy, việc thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang với những nhiệm vụ đã nêu trên theo tôi là hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ chớ không nhằm hướng tới chống lại Nhà nước XHCN VN.

2) Cấp sơ thẩm nhận định Phạm Bá Hải có 6 bài viết và dựa vào kết luận giám định của ông Nguyễn Minh Nghiệp để quy kết rằng Phạm Bá Hải có ý thức chủ quan là chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam là không thỏa đáng bởi lẽ:

- Thư viết cho Hòa thượng Thích Mãn Giác là thư trao đổi giữa cá nhân với cá nhân, được thu giữ tại nhà riêng (hoặc in từ máy vi tính của Phạm Bá Hải, tài liệu điều tra không nêu rõ, Bút lục 0140). Đây là thư cá nhân của Phạm Bá Hải trao đổi với Hòa thượng Thích Mãn Giác, do vậy người viết thư có thể viết gì tùy thích, thậm chí có thể hư cấu thêm nhiều tình tiết không có thật, v.v… không lý gì một lá thư cá nhân lại phải viết đúng đường lối, chính sách của nhà cầm quyền. Tôi thật sự không hiểu nổi 1 lá thư riêng của một cá nhân lại bị coi là chống Nhà nước.

- 5 bài viết còn lại thì chỉ duy nhất tên bài “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc” có đưa vào hồ sơ vụ án và được trưng cầu giám định, còn nội dung những bài này thì không thấy đưa vào, không biết viết những gì, trong phầm thẩm vấn công khai tại tại phiên tòa cấp sơ thẩm cũng không đề cập tới nội dung các bài viết này là gì, không làm sáng tỏ viết sai chổ nào, thì lấy căn cứ nào cho rằng nội dung những bài viết trên là sai trái?

- Trong bài viết: “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, Phạm Bá Hải cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa và ải Nam Quan là một phần lãnh thổ VN. Phạm Bá Hải đã đau xót khi một phần đất nước của mình bị về tay nước khác giống như anh đau xót khi bị mất một phần thân thể của mình. Cũng cần nhắc lại rằng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của chúng ta thì Trung Quốc là một trong những nước xâm chiếm đất nước ta nhiều nhất. Chắc điều này VKS là người biết rõ hơn. Đau xót khi một phần đất nước về tay một nước khác lẽ nào lại bị xem là chống Nhà nước XHCN Việt Nam?

- 5 bài viết còn lại không thấy cấp sơ thẩm đề cập. Do vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 184 BLTTHS là “Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa”, 5 bài viết trên không được đưa ra xem xét tại phiên tòa sơ thẩm nên không thể coi là chứng cứ buộc tội Phạm Bá Hải.

Mặt khác, cấp sơ thẩm dựa vào kết luận giám định số 123/KLGĐTP ngày 25/10/2006 của ông Nguyễn Minh Nghiệp để buộc tội Phạm Bá Hải là không khách quan:

- Về hình thức: Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP này không hợp pháp bởi ông Nguyễn Minh Nghiệp ký tên với tư cách là Giám định viên chịu trách nhiệm giám định nhưng không thấy có Quyết định bổ nhiệm ông Nghiệp là Giám định viên tư pháp của UBND Thành phố HCM hoặc xác nhận chữ ký Giám định viên của UBND Thành phố nên không chứng minh được tư cách Giám định viên của ông Nghiệp. Xác nhận chữ ký ông Nguyễn Minh Sơn (là người giao nhận) của Phòng Kiểm tra văn hóa phẩm xuất nhập khẩu thuộc Sở VH-TT TP HCM là tư cách Phó Phòng kiểm tra VHPXNK, không phải tư cách Giám định viên. Vì vậy, Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP không có giá trị dùng làm chứng cứ buộc tội. (Khoản 3 Điều 9 Pháp lệnh Giám định tư pháp).

Cần nói thêm rằng, Sở VH-TT TP HCM là một cơ quan Nhà nước, một bộ phận cấu thành trong hệ thống bộ máy Nhà nước thì giám định kết luận về một vấn đề mà chính mình là đối tượng bị “chống” thì rõ ràng là không khách quan. Lẽ ra, Cơ quan ANĐT Bộ Công an phải “trưng cầu cá nhân, tổ chức giám định nước ngoài” độc lập (khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh GĐTP) chớ không phải từ cấp Cục “trưng cầu ngược” xuống cấp dưới là cán bộ Sở VH-TT TP HCM.

- Về nội dung: Bản kết luận giám định số 123/KLGĐTP kết luận: “Đây là một tài liệu xấu, bài viết có tư tưởng kích động, kêu gọi bằng ngôn ngữ chính trị có tính chất lật đổ, tác động xấu đến tính ổn định xã hội của công cuộc đổi mới, gây hại đến tình hình an ninh quốc gia, vi phạm pháp luật Việt Nam. Tài liệu cho thấy tính chất nguy hiểm của một khuynh hướng chống đối được cấu trúc chặt chẽ bởi một tổ chức, một hệ thống có quy mô lớn, có quan hệ với một thế lực phản động ở nước ngoài, de dọa một cách thực tế lên an ninh quốc gia, sự an toàn xã hội”. Rõ ràng, đây là nhận định có tính chất suy diễn theo ý chí chủ quan của ông Nguyễn Minh Nghiệp, vì ông Nghiệp chỉ lặp đi lặp lặp lại được mấy từ “xuyên tạc”, “nói xấu”, “tài liệu xấu”… mà không chỉ ra được cụ thể câu nào “xuyên tạc” sai sự thật, “xấu” chổ nào, sự thật việc ấy ra sao, xâm hại đến tính ổn định xã hội ở chổ nào, hậu quả thế nào. Ông Nghiệp còn tự cho mình thay quyền cơ quan tố tụng kết luận rằng “hệ thống có quy mô lớn, có quan hệ với một thế lực phản động ở nước ngoài” mà không viện dẫn được “thế lực phản động ở nước ngoài” đó là “thế lực” nào? Cuối cùng, ông Nghiệp cũng chỉ nói chung chung là vi phạm Luật Báo Chí, Nghị định 55/NĐ-CP mà không chỉ ra được vi phạm cụ thể vào điểm, khoản, Điều nào của hai văn bản đó.

Tuy bản án sơ thẩm không nêu rõ về loạt bài viết “Nỗi nhục của Việt Nam trên đường chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”, nhưng được nêu trong Bản Kết Luận Điều Tra Bổ Sung nên tôi phân tích thêm:

Bài 1: “Cơ hội vượt lên đã bị tước, 1954 - 1975”.

Cơ quan tố tụng cho rằng Phạm Bá Hải “xuyên tạc thành quả đấu tranh giải phóng dân tộc” thông qua câu:

Sự hiếu chiến và tàn bạo của CSVN đã gây ra cho đồng bào miền Bắc ra sao suốt 30 năm, lịch sử đã ghi rõ. CSVN sao không để đồng bào miền Nam, với bối cảnh tương tự, chăm lo phát triển kinh tế, chạy đua với Đài Loan và Hàn Quốc”. Câu đầu Phạm Bá Hải chỉ nói là lịch sử sẽ ghi nhận, không nhận định, không bình luận gì nên không thể suy diễn là “xuyên tạc”. Câu sau, bằng cách dùng từ nghi vấn “sao không” là Phạm Bá Hải đặt ra giả thiết giả dụ về một giai đoạn xã hội, cũng không khẳng định điều gì thì càng không thể quy kết là tác giả xuyên tạc sự thật.

Bài 2: “Thống nhất đất nước - cơ hội nghìn vàng cho phát triển?”

Bị coi là “xuyên tạc sự phát triển kinh tế, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” căn cứ vào đoạn: “Năm 1986 chế độ XHCN đánh dấu sự bần cùng của người dân bằng siêu lạm phát đạt kỷ lục thế giới 777,7%. Đâu rồi những thành tựu xây dựng XHCN ở miền Bắc?”.

Có lẽ cơ quan tố tụng quên rằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam được coi là Đại Hội đầu tiên mở ra thời kỳ đổi mới nền kinh tế Việt Nam. Vì sao phải đổi mới? Vì nền kinh tế lúc đó bị khủng hoảng nghiêm trọng, Nhà nước Việt Nam phải chọn lựa giữa 2 con đường “đổi mới hay là chết”, và Đại hội VI đã lựa chọn con đường đổi mới.

Nghị quyết Đại hội VI nhận định: “tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.”, “chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông”.

Do đó, Nghị quyết Đại hội VI đề ra phương hướng: “Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách về cung ứng vật tư, lưu thông hàng hoá, giá, thuế, tín dụng, tiền lương... nhằm khuyến khích các cơ sở và công nhân, nông dân, thợ thủ công hăng hái phát triển sản xuất”. “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế”.

Những trích dẫn từ Văn kiện Đại hội VI ở trên cho thấy Phạm Bá Hải viết đúng thực tế xã hội Việt Nam thời điểm năm 1986 nên cáo buộc “xuyên tạc sự phát triển kinh tế, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” là vô căn cứ.

Bài 3: “Tiến lên XHCN - Mười năm để tìm ra đầu mối dây trói” bị cho là “xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế đất nước” có đoạn: “Dân lành được cải thiện đời sống nhiều hay ít, bị kìm kẹp và được giải phóng đến mức độ nào, 30 năm qua và thời gian tới, phụ thuộc vào tay những người CSVN. Họ có nghĩ cơ hội dù muộn màng này là cơ hội lớn của dân tộc hay không, mà thả sức dân, rửa nỗi nhục triền miên nỗi nhục”. Câu đầu từ “Dân lành… đến người CSVN” là nhận định hoàn toàn đúng đắn của Phạm Bá Hải về tình hình thực tế Việt Nam. Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước Việt Nam thì người dân phụ thuộc vào những người CSVN là đúng, chớ chẳng lẽ lại phụ thuộc vào những tay tư bản nước ngoài? Ở câu sau, từ “Họ” là đề chỉ những người CS, người viết đặt câu hỏi là tại sao không “thả sức dân”? Đừng bắt dân làm việc mà dân chưa kham nổi, “khoan sức dân là kế sâu rễ bền gốc” cũng là ý của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã viết trong “Hịch Tướng Sĩ”. Nếu suy diễn rằng đòi hỏi “khoan sức dân” mà là xuyên tạc đường lối thì hóa ra Hưng Đạo Vương cũng là người “xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế” của vua Trần?

Bài 4: “Những gì có thể cứu vãn hôm nay” bị quy kết là “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” qua câu: “Truyền hình CS phải chiếu những phim ảnh của họ để đáp ứng thị hiếu của người dân, bên cạnh ca nhạc, thời trang, v.v… Văn hóa Đảng, phim ảnh tuyên truyền đã làm cho đời sống tinh thần người dân què quặt, mất thăng bằng. Kết quả bi đát ấy là hàng chục ngàn cô gái Việt Nam đi làm dâu xứ người, chịu đựng không biết bao nhiêu tủi nhục trên đất Đài Loan, Hàn Quốc..”, “Giải pháp kinh tế triệt để để rút ngắn khoảng cách cách biệt, xóa dần nỗi quốc nhục; giải pháp chính trị triệt để để duy trì tính hiệu quả và phát huy hết tiềm lực quốc gia. Chương trình hành động của người dân của người dân yêu nước hôm nay là theo tiếng gọi của các nhà Dân Chủ, đòi đa nguyên đa đảng và tổng tuyển cử tự do”.

Trong câu trích dẫn này, Bản KLĐTBS đã cắt bỏ câu đầu là “Nỗi nhục của nước CHXHCN VN là thua kém và lạc hậu, cái thua kém đè nặng lên lương tri trí thức yêu nước, cái lạc hậu vây kín dân lành và người nghèo” mà chỉ lấy mệnh đề tiếp theo phía sau, làm câu văn trở thành tối nghĩa, sai lạc ý của người viết.

Việc “hàng chục ngàn cô gái Việt Nam đi làm dâu xứ người”, phải sống cảnh nô lệ tình dục, bị đánh đập, thậm chí bị giết chết dã man… là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận. Nói lên một thực trạng xã hội Việt Nam mà ai cũng biết thì không phải là “nói xấu Đảng”. Thực tế không thể chối cãi là kinh tế nước ta không thể phát triển bằng Đài Loan, Hàn Quốc, chúng ta lạc hậu hơn họ, dân ta nghèo hơn dân họ. Nói chúng ta cảm thấy nhục với những nước có cùng điều kiện, hoàn cảnh như ta nhưng họ phát triển, văn minh hơn ta là hoàn toàn đúng. Chẳng lẽ chúng ta lại tự hào, hãnh diện vì nước mình thua kém và lạc hậu hơn nước khác hay sao?

Bộ Luật Hình Sự không có tội danh nào quy định hành vi “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” nên “nói xấu đường lối lãnh đạo của Đảng CS” (nếu có) cũng không phải là chống Nhà nước XHCN.

Xét về tổng thể toàn bộ các bài viết của Phạm Bá Hải thì tình tiết, số liệu về tình hình kinh tế VN đưa vào dẫn chứng trong bài viết đều chính xác. Khi đánh giá một tác phẩm chúng ta phải đánh giá trên cơ sở toàn diện, khách quan, chớ không được quyền cắt khúc câu chữ ra khỏi bối cảnh chung của bài viết rồi suy diễn sai lạc theo ý người đọc như Bản kết luận giám định và Bản KLĐTBS đã làm.

Do đó, có thể khẳng định rằng, những bài viết trên là dựa trên sự kiện chính xác, thể hiện tư tưởng phản kháng của Phạm Bá Hải đối với những nhân tố, yếu tố cản trở sự tiến bộ xã hội chớ không nhằm mục đích chống Nhà nước XHCN VN.

3- Hành vi tham gia vào Khối 8406:

Tại Quyết định số 127/2007/QĐ-THS ngày 19/7/2007 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh “hoạt động của 8406 chống chính quyền nhân dân như thế nào?” thì Bản kết luận điều tra bổ sung số 145/ANTĐ ngày 12/9/2007 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào.

Tại phiên tòa hôm nay, nếu VKS chỉ ra được tài liệu, chứng cứ thể hiện được kết luận hoạt động của khối 8406 là nhằm chống Nhà nước XHCN Việt Nam, tài liệu đã được Chính phủ Việt Nam công bố một cách công khai hay chưa, nếu có thì tôi đồng ý rằng Phạm Bá Hải đã có mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nếu VKS không cung cấp thêm được chứng cứ mới thì hành vi này đương nhiên không phạm vào tội tuyên truyền chống NN CHXHCN VN.

.

Thưa HĐXX!

Từ những lập luận đã trình bày ở trên, tôi kính đề nghị HĐXX tuyên bố Phạm Bá Hải không phạm tội tuyên truyền chống NN CHXHCN VN. Để cùng VKS làm sáng tỏ hành vi của Phạm Bá Hải, tôi tóm tắt 4 vấn đề chính để tranh luận:

- Như thế nào là chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam?

- Hành vi thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang và viết bài của Phạm Bá Hải có nhằm mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam hay không?

- Hành vi tham gia vào khối 8406 có nhằm mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam hay không?

- Kết luận giám định có khách quan hay không?

Xin cảm ơn HĐXX đã lắng nghe tôi trình bày!

.

Luật sư LÊ TRẦN LUẬT