"Bauxite Việt Nam" quyết sống!


Phải khẳng định rằng đối với Loài Người Văn Minh, thông tin chuyển tải trên Internet đã trở nên thiết yếu tới mức không có nó thì không thể tồn tại, như oxy đối với sự sống vậy. Cũng như thế, từ 8 tháng nay với 17 triệu rưỡi lượt truy cập - một con số kỷ lục, trang mạng Bauxite Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà giáo Phạm Toàn và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, tập hợp trên 3 nghìn chữ ký của giới trí thức Việt Nam và các tầng lớp nhân dân vào Kiến nghị quyết liệt phản đối Chính phủ cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên tiếp nối những bức tâm thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cùng vấn đề, đã thực sự trở thành dinh dưỡng hàng ngày của tất cả những ai “con Lạc cháu Hồng” ứa máu với Hoàng Sa, đau đáu với Trường Sa, với sinh mệnh của Tổ quốc đang lâm nguy bởi “liên minh ma quỷ” giữa các thế lực tham nhũng trong nước và bành trướng phương Bắc. Cũng chính vì vậy, với Bauxite Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng sản, “xã hội dân sự” – thành phần quyết không thể thiếu của bất kỳ quốc gia Dân chủ và Pháp quyền nào, đã được thị phạm một cách vô cùng hoành tráng và sinh động!

Thế nhưng từ ngày 12 tháng 12 năm ngoái, 2009, Bauxite Việt Nam liên tục bị “tin tặc” đánh phá khốc liệt, mạng bị sập nhiều lần, thậm chí cả các hộp thư điện tử cá nhân của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn cũng bị chúng trộm cắp mật khẩu hoặc “nhái” địa chỉ để “chế” và phát tán một số thư mạo danh người này để đả kích người nọ. Nếu như hành vi đầu cùa “tin tặc” dù là thô bạo và trắng trợn nhưng cũng chẳng làm nhụt được chí của ai thì hành vi sau của chúng quả vô cùng hiểm độc bởi không chỉ nhằm ly gián những người chủ trương Bauxite Việt Nam với nhau mà chính là nhằm ly gián những người ký Kiến nghị và ủng hộ với trang mạng hòng đẩy cả một phong trào yêu nước và dân chủ rầm rộ nhất từ trước đến nay đi đến chỗ tan rã.

Thế nhưng như mọi người đã thấy, những mưu đồ nói trên đã thất bại thảm hại với lời kết án “bọn lưu manh tin học” thật đanh thép và đầy khinh bỉ của Nhà giáo Phạm Toàn, với các thư “chế” sặc mùi mật thám tuốt tuột bị vụt vô sọt rác mà bằng chứng là không có bất cứ trang mạng nào dù trong hay ngoài nước đăng lại. Mặc dù vậy, để khôi phục một cách bền vững Bauxite Việt Nam, không thể không đặt câu hỏi: Ai là kẻ chủ mưu và ai là kẻ thực hiện những hành vi bỉ ổi ấy?!

Tất cả những ý kiến mà tôi nghe được cho đến nay đều cho rằng hỏi tức trả lời: Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “xoá” Bauxite Việt Nam bởi run sợ trước ảnh hưởng xã hội ngày một lớn của trang mạng có được bằng những phản biện quyết liệt mà khoa học và đúng pháp luật đối với quyết định cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên và các quyết định trái pháp luật khác của Chính phủ và Thủ tướng, bằng những phanh phui không khoan nhượng những bất cập, tha hoá và phản dân chủ của hệ thống chính trị hiện hành cốt lành mạnh hoá hệ thống, và chỉ đạo này đã được “ẩn” dưới Công văn 8500/VPCP-TH do Thủ tướng ký đầu tháng 12/2009 giao Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra các trang mạng "có phép và không phép" và báo cáo Thủ tướng trước 15/12/2009! Tuy nhiên tôi khẳng định những ý kiến trên là không đúng vì đã đánh giá quá thấp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bởi dẫu có bất đồng chính kiến với Bauxite Việt Nam dến đâu, không đời nào Thủ tướng - người không ngớt hô hào xây dựng Nhà nước pháp quyền vì Dân - lại có thể hành xử phản pháp luật đến như vậy! Thực thế, các hành vi phá hoại trên của “tin tặc” đã xâm phạm nghiêm trọng những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo hộ và bị các Nhà lập pháp liệt vào danh sách tội phạm thể hiện tại các quy định pháp luật sau:

-    Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin…”

-    Điều 73 Hiến pháp: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn, bí mật”.

-    Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh bưu chính, viễn thông: “Nghiêm cấm thu trộm, nghe trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác”.

-    Điều 125 Bộ Luật hình sự về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” quy định: “Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền bằng phương tiện viễn thông và máy tính, hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” với hình phạt “cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” trong trường hợp “có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều này.

Vậy để trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời gián tiếp chứng minh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “vô can” một cách có căn cứ pháp luật, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Nhà giáo Phạm Toàn với tư cách chủ nhân trang mạng Bauxite Việt Nam, chủ nhân của những hộp thư điện tử bị tin tặc trộm cắp mật khẩu, khoá mật mã và chủ nhân của những thư điện tử bị tin tặc chiếm đoạt, hoàn toàn có quyền yêu cầu Nhà nước “nhập cuộc” bằng cách căn cứ Điều 100 (Căn cứ khởi tố vụ án hình sự) và Điều 101(Tố giác và tin báo về tội phạm) Bộ Luật tố tụng hình sự để làm đơn tố cáo hoặc tố giác gửi Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về các tội phạm trên của “tin tặc” và đề nghị khởi tố vụ án hình sự “Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác” theo Điều 125 Bộ Luật hình sự để truy tìm và đưa ra trước vành móng ngựa “bọn lưu manh tin học” và những kẻ chủ mưu (nếu có).

Song song, hai ông có thể cậy tới sự giúp đỡ của Hiệp sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tử Quảng, Giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, người đã rất thành công trong việc tổ chức tấn công và chiếm quyền kiểm soát hai máy chủ ở Anh được cho là nguồn gốc điều khiển các cuộc tấn công vào các trang web của Hàn Quốc và Mỹ vào tháng 7 nắm ngoái. Tôi tin Tử Quảng không hổ danh Hiệp sĩ và cũng là một người yêu nước chân chính (bố vợ là Nhà báo Đăng Ngọc, Phó Tổng biên tập báo Đại đoàn kết bị buộc thôi việc do ngày 6/11/2007 đã đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên giáp phản đối phá bỏ Hội trường Ba Đình để xây Nhà Quốc Hội), sẽ hết mình vì Bauxite Việt Nam!

“Quyết sống!”, đó là câu trả lời của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi cá nhân tôi ngay khi Bauxite Việt Nam bị đánh sập. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là lời tuyên thệ long trọng của những người khởi xướng trang mạng, tiếp nối lời thề “Quyết Tử cho Tổ quốc quyết Sinh” của những bậc Anh hùng nước Việt Mùa Đông năm 1946. Hậu sinh Cù Huy Hà Vũ này chỉ có thể nghiêng mình và noi theo trước khí phách của các Ông, những Chu Văn An – “Thất trảm sớ” thời nay, với niềm tin chắc nịch rằng những Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng cùng hàng ngàn Nghĩa sĩ của Phong trào Kiến nghị 2009 đã và đang làm nên Lịch sử!

Hà Nội, mùa Đông 4/01/1010

Việt Nam: Một năm nhìn lại


Năm 2009 có thể coi là một năm có nhiều biến động và thách thức đối với Việt Nam. Nhân dịp đầu năm dương lịch, Blog Góc nhìn Kinh tế muốn cùng quý vị và các bạn điểm lại các sự kiện chính, các thành công cũng như thất bại của Việt Nam trong năm vừa qua.

Kỳ 1- Kinh tế VN trong năm 2009

Việt Nam bước vào năm 2009 trong khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang trên đà tăng tốc. Là một nước tăng trưởng dựa nhiều vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, VN chịu ảnh hưởng lớn từ doanh số xuất khẩu giảm sút và đầu tư nước ngoài thu hẹp. Trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của VN giảm 11.4% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư nước ngoài trong 10 tháng đầu năm chỉ xấp xỉ 25% so với cùng kỳ năm trước. Đây là những thử thách to lớn đối với nền kinh tế và với chính phủ – với tư cách là người lèo lái con thuyền này.

Lèo lái tốt trong khủng hoảng: Trong bối cảnh như vậy, tăng trưởng kinh tế ước tính của năm 2009 vẫn lên tới 5.2% (sau khi đã khấu trừ lạm phát). Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN luôn tăng trưởng trong tất cả 4 quý của năm 2009. Thành tích tăng trưởng này được Ngân hàng Thế giới tán dương với nhận định “kinh tế Việt Nam chèo chống tương đối tốt qua cuộc khủng hoảng,” còn IMF thì tuyên bố Việt Nam chắc sẽ làm tốt hơn các nước láng giềng trong giai đoạn hồi phục.”

Duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối tốt trong điều kiện thế giới chìm đắm trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái rõ ràng là thành tích ấn tượng nhất trong lĩnh vực quản lý kinh tế của chính phủ trong năm 2009.



Hình 1: Chỉ số VN-Index từ cuối 2008 tới nay
Nguồn: Bloomberg


Thị trường chứng khoán VN (TTCK) hồi phục: TTCK bắt đầu năm 2009 với VN-Index nằm ở mức 315 điểm, sau đó tụt xuống thấp nhất ở mức 235 điểm vào ngày 24 tháng 2 (giảm 25.4%). Từ đó tới nay, TTCK đã hồi phục mạnh mẽ, VN-Index đạt trần vào ngày 22 tháng 10 với mức 624 điểm, tức là tăng khoảng 100% so với hồi đầu năm và 165% so với thời điểm chỉ số này chạm đáy. Tuy nhiên, VN-Index đã liên tục giảm trở lại từ cuối tháng 10 và hiện nay chỉ còn ở mức 440 điểm (số liệu trong ngày 16 tháng 12). Đà giảm điểm này có lẽ còn kéo dài nữa do vấn đề thanh khoản (liquidity) trong hệ thống ngân hàng ở VN.
Thâm hụt mậu dịch và sức ép phá giá tiền tệ: Ngược lại với các điểm sáng kể trên, kinh tế Việt Nam vẫn còn đang gặp phải vô số khó khăn trong ngắn hạn. Thâm hụt mậu dịch quốc tế vẫn liên tục tăng từ hàng chục năm nay tạo nên sức ép thường trực lên giá trị của đồng VND. VN đã phải tuyên bố phá giá 5.4% giá trị đồng VND vào hồi cuối tháng 11 vừa rồi mặc dù chỉ vài ngày trước đó các chính trị gia hàng đầu của đất nước vẫn khẳng định như đinh đóng cột là không có chuyện phá giá.

Đầu tư nước ngoài ít thực chất: Do sức ép phải duy trì được thành tích kêu gọi vốn nước ngoài, Việt Nam đã phải chấp nhận cho FDI đi mạnh vào các khu vực “bong bóng” như bất động sản và du lịch thay vì vào các khu vực công nghệ, kỹ thuật, hạ tầng, hay giáo dục là các khu vực có tác dụng nâng cao năng suất của nền kinh tế về dài hạn. Tỉ lệ FDI đầu tư vào bất động sản trong năm 2008 là 36.8% và trong 10 tháng đầu năm 2009 là 30% ($5.67 tỉ trong tổng số khoảng $19 tỉ). Nếu tính cả số FDI đầu tư vào dịch vụ du lịch thì vốn FDI vào bất động sản và du lịch chiếm tới 76% trong tổng số vốn FDI đầu tư vào VN trong 10 tháng đầu năm 2009.

Khả năng trả nợ của quốc gia ngày càng bị đánh giá thấp: Xếp hạng tín dụng quốc gia đang ngày càng kém đi. Hiện nay các khoản nợ quốc gia của Việt Nam được Moody xếp hạng Ba3 và Standard & Poor’s xếp hạng BB. Hồi giữa năm 2008, Standard & Poor’s đã hạ thấp mức xếp hạng chỉ số tín dụng quốc gia của Việt Nam từ “ổn định” (stable) xuống “tiêu cực” (negative). Một báo cáo gần đây của Nomura còn khuyến cáo rằng Việt Nam đang đứng trước khả năng tiếp tục bị đánh tụt hạng tín dụng. Vì bị xếp hạng tín dụng thấp, khả năng huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài ngày càng khó khăn.

Cuộc đánh đổi giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tín dụng: Việt Nam hứng chịu sức ép lạm phát trong suốt cả năm 2009 do tăng trưởng tín dụng nhanh và giá nguyên vật liệu thô tăng. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tìm cách kiềm chế đà tăng này bằng cách yêu cầu các ngân hàng duy trì mức tăng tín dụng cả năm không quá 30%. Tuy nhiên, chỉ trong 11 tháng từ đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã lên tới 36%. Vì thế, mức lạm phát cả năm hiện nay được dự tính sẽ vào khoảng 6.8%. Ngân hàng phát triển Châu Á hồi cuối tháng 9 vừa qua còn dự báo lạm phát của năm 2010 ở Việt Nam có thể lên tới 8.5% nếu chính phủ tiếp tục duy trì gói kích thích tài chính.

Để ngăn chặn khả năng lạm phát quá cao, hồi cuối tháng 11 này, NHNN đã phải tăng lãi suất cơ bản và yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) hạn chế cho vay vào các mục đích phi sản xuất. Hậu quả là nguồn tín dụng cho chứng khoán và nhà đất bị thu hẹp một cách bất ngờ. Chính vì vậy mà TTCK tiếp tục tụt dốc không phanh, còn thị trường bất động sản thì cũng được VNeconomy mô tả là “bong bóng đang xì hơi.”

Hiệu quả sử dụng vốn quá thấp: Một thước đo thường được sử dụng để xác định hiệu quả sử dụng vốn là Tỉ lệ vốn tăng thêm trên sản lượng (ICOR-Incremental Capital Output Ratio). Ti lệ này cho biết mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn trong sản xuất. ICOR càng cao có nghĩa là Việt Nam càng phải sử dụng nhiều vốn hơn chỉ để sản xuất ra một sản lượng như trước.
Nghiên cứu của Deutsche Bank cuối năm 2007 đã kết luận “không may là hiệu quả của vốn đầu tư của Việt Nam đã ngày càng kém đi trong nhiều năm trở lại đây. ICOR của Việt Nam [năm 2006] là 4.2, cao hơn nhiều so với Trung Quốc khi đó là 3.7 hay Ấn Độ là 3.3.” Theo một nghiên cứu được Intellasia trích đăng lại thì ICOR trong năm 2007 là 4.76.

Có vẻ như chỉ số này của năm 2009 còn kém hơn nữa. Khi được đề nghị dự báo về chỉ số cho năm 2009, ông Bùi Bá Cường của Tổng cục Thống kê đã trả lời: “Đầu tư của nhà nước tăng bất thường lên hơn gấp rưỡi – tính theo giá thực tế, mà tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 5,2% thì rõ ràng là ảnh hưởng đến ICOR rồi.” 

Hiệu quả sử dụng vốn thấp đồng nghĩa với giá thành cao và khả năng cạnh tranh của hàng hóa ở Việt Nam sẽ phải kém đi tương đối. Điều này hoàn toàn bất lợi cho một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu. Các lãnh đạo của Việt Nam hiểu rõ vấn đề này, ngay đến như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng bình luận: “ICOR tăng cao thế là rất đáng lo ngại nhưng cần có đánh giá thêm của các nhà khoa học.”

Nền kinh tế “chạy” không nhanh nhưng luôn “quá nóng”: Điểm đau đầu nhất mà chính phủ của Thủ tướng Dũng đang gặp phải có lẽ là kinh tế Việt Nam đang bị coi là ở trong tình trạng “quá nóng” mặc cho tốc độ tăng trưởng không thực sự cao nếu so sánh với tốc độ phát triển kinh tế của các nước Đông Á hay Trung Quốc một vài thập niên trước. Mấu chốt của vấn đề này có lẽ ở chỗ cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang bị mất cân đối nghiêm trọng và cần phải được điều chỉnh về cơ bản.

Hiện nay các chủ nợ như ADB đang kêu gọi Việt Nam nên tăng trưởng chậm lại và tập trung vào giải quyết các vấn đề đang tồn đọng, tái cấu trúc cơ cấu kinh tế nhằm duy trì được khả năng tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Kỳ 2- Chính trị 

Thay đổi đường lối đối ngoại với Mỹ và Trung Quốc: Năm 2009 đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam. Điểm dễ thấy là Việt Nam đang tích cực tìm cách thúc đẩy quan hệ song phương với Hoa Kỳ. Trong những tháng cuối năm, lịch thăm viếng của lãnh đạo cấp cao Việt Nam tới Mỹ có thể nói là dày đặc: Chủ tịch Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ vào tháng 9, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm thăm Mỹ vào tháng 10, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thăm vào tháng 11 còn Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh thì thăm Mỹ vào tháng 12. Phía Hoa Kỳ thì một mặt đang cân nhắc việc bán vũ khí cho Việt Nam, mặt khác đang tìm cách lôi kéo Việt Nam tham gia vào một tổ chức mậu dịch có tên là Hiệp định Đối tác Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership Agreement).

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tỏ ra cứng cỏi hơn và công khai hơn trong cách ứng xử với Trung Quốc ở Biển Đông. Từ đầu năm trở lại đây, báo chí trong nước liên tục đăng tải các sự kiện có liên quan tới Biển Đông. Các kênh truyền hình cũng làm các chuyên đề về Biển Đông trong khi các trường Đại học và các nhóm nghiên cứu thì tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế nhằm thu hút sự chú ý của dư luận thế giới. Còn nhớ, cách đây chưa lâu, như hồi năm 2005, khi sự kiện hải quân Trung Quốc thảm sát dân thường Việt Nam trên Vịnh Bắc Bộ, việc đưa tin và thảo luận công khai về các vấn đề này vẫn bị coi là hết sức nhạy cảm.

Nỗ lực bang giao với Vatican chưa thành công: Trong nỗ lực đặt quan hệ ngoại giao với Vatican, Chủ tịch Triết đã hội kiến với Ðức giáo hoàng Bennedict XVI tại Vatican hồi giữa tháng 12 vừa rồi. Ngay trước buổi hội kiến này, Chủ tịch Triết đã trả lời báo Corriere della Sera rằng “chúng tôi đang xúc tiến để thiết lập bang giao chính thức với Vatican.” Cuộc gặp với Ðức giáo hoàng đã kéo dài tới 40 phút, gấp đôi thời lượng dự tính ban đầu. Thế nhưng kết cuộc thì hai bên vẫn chưa đi tới được thỏa thuận cuối cùng về việc thiết lập bang giao.

Theo các hãng tin nước ngoài, một trong những khúc mắc hai phía cần tập trung giải quyết là tài sản của Giáo hội bị chính phủ tịch thu sau năm 1954 ở miền Bắc, và sau 1975 ở miền Nam. Một vấn đề khác có lẽ cũng quan trọng không kém là việc Việt Nam từ trước tới nay vẫn dành quyền phủ quyết các quyết định bổ nhiệm nhân sự của Vatican trên lãnh thổ Việt Nam.

Nếu như Vatican chịu nhượng bộ Việt Nam trên vấn đề tranh chấp đất đai thì có lẽ sẽ là dấu chấm hết cho các cuộc đấu tranh đòi đất của các nhà thờ công giáo từ Bắc vào Nam.

Quản lý blog và hạn chế phản biện: Năm 2009 cũng đánh dấu bước chuyển biến mới trong chính sách của Việt Nam đối với giới bloggers và những người làm công tác phản biện. Tháng 8 năm qua được đánh dấu bởi một loạt các vụ bắt giữ những bloggers có tên tuổi ở Việt Nam như Bùi Thanh HiếuPhạm Đoan Trang. Từ phía chính quyền, bà Nguyễn Thanh Nga của Bộ Ngoại giao chỉ khẳng định họ bị bắt giữ vì “có những dấu hiệu xâm hại an ninh quốc gia.” Tuy nhiên bà Nga không nói rõ đó là các dấu hiệu gì, và những dấu hiệu này sau đó cũng không thấy được nhắc tới nữa.

Gần đây, từ đầu tháng 11 vừa qua, trang mạng Facebook – là trang được những người trẻ tuổi ở Việt Nam ưa chuộng – đã bị hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISPs) ở Việt Nam ngăn chặn. Facebook tuy không phải là một trang cung cấp dịch vụ blogging nhưng là một mạng lưới xã hội cực mạnh giúp người dùng nhanh chóng phổ biến các thông tin cho bạn bè và những người trong mạng lưới của mình. Theo VOA, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) của Việt Nam khẳng định họ không có liên hệ gì đến việc giới sử dụng Internet ở trong nước hiện không truy cập được trang mạng Facebook. Nếu VOA đưa tin đúng, thì tuyên bố này của Bộ TT&TT không có nghĩa facebook không bị chặn, mà chỉ có nghĩa việc chặn này không phải do Bộ TT&TT làm.

Liên quan tới phản biện, Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng Dũng ký hồi tháng 7 vừa rồi đã yêu cầu các tổ chức nghiên cứu “nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, cần gửi ý kiến phản biện đó cho cơ quan Đảng, nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ.” Việc này đã gây ra một số phản ứng trong giới nghiên cứu và phản biện chính sách. Điển hình nhất là sự kiện Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã tuyên bố đóng cửa vào ngày 14 tháng 9 vừa qua. IDS là một think tank tư nhân có uy tín vào bậc nhất ở Việt Nam do các nhà khoa học có tên tuổi thành lập. Sự kiện IDS giải thể để phản đối quyết định này đã gây ra chấn động khá lớn trong giới trí thức Việt Nam.

Vụ án xâm phạm an ninh quốc gia Lê Công Định: Năm 2009 cũng được đánh dấu bởi vụ án xâm phạm an ninh quốc gia liên quan tới luật sư Lê Công Định và các đồng sự của ông. Vụ án này gây chấn động lớn trong dư luận không phải vì tính nghiêm trọng của nó mà vì sự nổi tiếng cá nhân của những người bị bắt trong vụ án như Luật sư Định hay ông Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức cùng với việc nhà nước Việt Nam nhanh chóng công bố các video có ghi hình ảnh họ đọc biên bản nhận tội.

Khác với các vụ án của các thế hệ đi trước như Lê Chí Quang hay Nguyễn Khắc Toàn, vụ án liên quan đến nhóm của LS Định đã được giới trí thức, sinh viên, và các chuyên viên cổ cồn trắng nói chung đặc biệt quan tâm. Lý do như đã nói ở trên là vì sự nổi tiếng cá nhân của họ. Thí dụ như LS Định có vợ là một cựu hoa hậu, còn ông Nguyễn Tiến Trung thì đã từng hội kiến với nhiều chính khách lớn của nước ngoài. Tuổi tác, học vấn và sự thành đạt của họ cũng khiến họ được ngưỡng mộ và đồng cảm. Ngoài ra, nhận thức của công chúng thành thị ở Việt Nam cũng đã có những bước chuyển biến khá rõ nét so với hồi năm 2001.

Theo báo chí Việt Nam, nhóm của LS Định đã cấu kết với một số người Việt phản động ở nước ngoài nhằm thành lập ra các tổ chức đảng với mục tiêu lâu dài là cạnh tranh quyền lực với ĐCS. Nhà nước Việt Nam coi hoạt động này là vi phạm pháp luật (hiến pháp Việt Nam quy định ĐCS là đảng duy nhất có độc quyền lãnh đạo đất nước). Việt Nam trước đây từng có các đảng anh em bên cạnh ĐCS. Tuy nhiên, những người anh em này sau đó được cho là không cần thiết nữa nên đã tự nguyện giải thể.

Kỳ 3- Xã hội


GS. Ngô Bảo Châu được báo Times vinh danh: Tờ báo này đã bình chọn GS Châu là người có một trong 10 phát minh tiêu biểu của khoa học Thế giới năm 2009. Đây là một thành tích cá nhân của GS Châu, nhưng cũng là một niềm vui cho những người Việt Nam làm khoa học và cũng là một điểm sáng của nền giáo dục Việt Nam vốn trước nay bị chê bai là yếu kém.

GS Châu sinh năm 1972 và lớn lên ở Việt Nam. Ông từng học ở khối phổ thông chuyên toán trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Có thể coi ông là sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam, và đặc biệt là sản phẩm của mô hình “trường chuyên, lớp chọn” – là một mô hình cũng bị phê phán nhiều vì khuyến khích trẻ em học lệch về một số môn học nhất định.

Bauxite Tây nguyên và mối lo mang tên Trung Quốc: Năm 2009 cũng được đánh dấu bởi sự phản đối quyết liệt của dư luận, đặc biệt là trong giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, về các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Hàng loạt các tên tuổi lớn đại diện cho trí tuệ Việt Nam đã cùng ký tên vào một bản kiến nghị gởi lên Quốc hội và Chính phủ yêu cầu đình chỉ các dự án này. Sự lên tiếng của các nhà khoa học đã tạo ra một làn sóng công luận rộng rãi khắp cả nước về vấn đề này. Từ chỗ không chủ trương đưa ra Quốc hội, các dự án ở Tây Nguyên đã được đưa ra thảo luận công khai trong phiên họp lần thứ 5 của cơ quan lập pháp hồi tháng 5 năm qua.

Lý do mà phe phản đối đưa ra là dự án này không có hiệu quả kinh tế và tai hại về môi trường. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề gây phản ứng dữ dội nhất trong công chúng là vai trò của Trung Quốc trong dự án này. Nhiều người cho rằng Trung Quốc hiện nay đang tìm cách bòn rút tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, từ ếch nhái, cua, cá, rắn rết, hải sâm, rong biển, ba ba thuồng luồng đến quặng kim loại. Đó là chưa kể sự xuất hiện bất thường của rất đông công nhân người Trung Quốc trên các công trường bauxite ở Tân Rai và Nhân Cơ gây ra quan ngại về an ninh quốc gia.

Những bức xúc này, kèm theo việc Trung Quốc liên tục lấn át và gây hấn trên Biển Đông đã khiến nhiều người Việt lo ngại và bất bình. Năm 2009 có lẽ là năm mà mối lo mang tên Trung Quốc ở Việt Nam được bộc lộ rõ ràng nhất trong công luận.

Thất vọng lớn của bóng đá nam tại SEA Games: Đội tuyển U23 làm tan nát lòng người hâm mộ – vốn rất đông – ở Việt Nam khi để thua trước Malaysia trong trận chung kết bóng đá nam hôm 17 tháng 12 năm qua.

Xã hội Việt Nam hiện nay là một xã hội yêu bóng đá, đặc biệt là bóng đá nam. Người Việt yêu bóng đá tới mức Việt Nam có bao nhiêu huy chương vàng trong bảng tổng sắp của SEA Games cũng không có ý nghĩa gì đặc biệt nếu VN không thành công ở môn bóng đá nam. Thanh niên Việt Nam chỉ xuống đường ăn mừng (và một số xuống đường để quậy phá) nếu đội tuyển U23 của Việt Nam thắng lợi. Và đội tuyển này đã làm đúng những gì người hâm mộ Việt Nam mong muốn – trừ ở trận trung kết.

Bóng đá không phải là một môn thể thao mà Việt Nam có thế mạnh. Việt Nam từng đạt được huy chương của Thế vận Hội ở một số môn như taekwondo và cử tạ. Đối với môn bóng đá nam, trong suốt 50 năm qua, Việt Nam chưa lần nào dành được huy chương vàng ở giải đấu khu vực Đại hội thể thao Đông Nam Á.

Vì sao người Việt yêu thích môn bóng đá đến vậy là một câu hỏi khó trả lời. Có lẽ vì người Việt nói chung rất ít chơi thể thao, vì thế cũng không biết đến nhiều môn thể thao đa dạng. Bóng đá là môn được nhiều người chơi nhất, cũng vì thế là môn được nhiều người xem nhất. Từ chỗ đó, nó được nhà nước đầu tư nhiều nhất, và được các doanh nghiệp tài trợ và được quảng bá nhiều nhất.

Bát Nhã và Làng Mai: Sự kiện tu sinh Làng Mai bị buộc phải rời khỏi tu viện Bát Nhã không phải là một sự kiện lớn có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống người Việt nhưng lại được các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài theo dõi từng bước.

Cần nhắc lại rằng ở Việt Nam hiện nay chỉ có một giáo hội được công nhận có tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN). Giáo hội này được tổ chức theo mô hình như một hệ thống cơ quan công quyền, bao gồm cơ quan trung ương, các Tỉnh hội (thành hội) phật giáo ở các tỉnh. Bên dưới nữa là các ban đại diện phật giáo ở các quận, huyện, thị xã. Có thể nói đây là một guồng máy thống nhất, được tổ chức chặt chẽ, và độc quyền trên mọi hoạt động liên quan đến Phật giáo ở Việt Nam.

Thiền sư (TS) Nhất Hạnh và các tu sĩ Làng Mai được chào đón ở Việt Nam hồi năm 2005 và 2007 với tư thế là các vị khách chứ không phải là một giáo hội cạnh tranh. Khi đệ tử của ông là thượng tọa (TT) Đức Nghi đứng ra xin mở các khóa tu ngắn hạn vào hồi tháng 8 năm 2006, nhà nước Việt Nam đã đồng ý và cơ sở của sự đồng ý này là TT Đức Nghi là người của GHPGVN và các khóa tu ở Bát Nhã chỉ là các khóa tu ngắn hạn. Theo các văn bản qua lại giữa TT Ðức Nghi với nhà nước và GHPGVN, các khóa tu ngắn hạn này có thời gian 3 tháng cho mỗi khóa, và sẽ nối tiếp nhau từ cuối tháng 8/2006 tới năm 2010.

Thế nhưng trong các thư từ trao đổi giữa TS Nhất Hạnh và TT Đức Nghi thì TS Nhất Hạnh muốn Bát Nhã trở thành một cơ sở vĩnh viễn của Làng Mai ở Việt Nam, hoạt động độc lập với GHPGVN. Vì chính quyền Việt Nam không chấp nhận một giáo hội khác ngoài GHPGVN, việc tu sinh Làng Mai ở Bát Nhã phải giải tán là kết quả tất nhiên.

Đã có nhiều tiếng nói lên án việc chính quyền buộc các tu sinh Làng Mai phải giải tán. Thế nhưng có vẻ như câu chuyện thực sự ở đây là việc chính quyền Việt Nam chỉ chấp nhận một giáo hội, và chuyện TS Nhất Hạnh muốn phá bỏ quy định này của nhà nước – và ông đã không thành công.

Vụ án PMI và RBA: PMI và RBA chỉ là hai vụ án hối lộ do Nhật Bản và Úc phanh phui, nhưng đều liên quan tới quan chức Việt Nam. Chính vì thế, chúng có ảnh hưởng tai hại tới hình ảnh các quan chức Việt cũng như đến tính khả tín của toàn bộ bộ máy nhà nước nói chung. Nhật Bản thậm chí còn quyết định ngừng viện trợ ODA cho Việt Nam trong một thời gian xuất phát từ vụ án này.

Trong vụ án PCI, quan chức Việt Nam có dính líu tới hối lộ là ông Huỳnh Ngọc Sỹ. Tuy nhiên, việc điều tra và đưa ông Sỹ ra xét xử từ phía Việt Nam đã tỏ ra chậm chạp. Trong số nhiều lý do được đưa ra có cả lý do cần thời gian để dịch tài liệu do phía Nhật Bản cung cấp.

Hiện nay ông Sỹ đang ngồi tù nhưng lại không liên quan gì tới vụ án hối lộ của Nhật. Ông Sỹ bị ngồi tù vì đã cho thuê trái phép trụ sở của PMU Đông Tây để lấy tiền chia chác. Tuy nhiên, theo Vnexpress ông chỉ chịu mức án nhẹ (3 năm thay vì 5-6 năm tù theo đề nghị của VKS) vì ông có “công nhiều hơn tội” (?) và có “nhiều đơn từ, công văn của các ban ngành, tập thể “tha thiết” đề nghị tòa… giảm nhẹ hình phạt” cho ông.

Khác với vụ PMU, vụ RBA chỉ mới bắt đầu từ hồi tháng 10 vừa qua. Theo văn bản giải trình của Thượng nghị sĩ Bob Brown của Úc trước QH nước này vào ngày 27 tháng 10 thì tập đoàn Reserve Bank of Australia (RBA) đã hối lộ ông Lê Đức Minh, là con trai của cựu thống đốc Lê Đức Thúy. Theo văn bản của TNS Brown thì “vào năm 2002, khi Việt Nam chuyển từ tiền giấy sang tiền polymer, Securency (chi nhánh của RBA) đã kết hợp với công ty CFTD ở Hà Nội và chi nhánh của nó là Banktech. Hồi đầu năm 2002, phó giám đốc Banktech Lê Đức Minh đã đứng ra thực hiện thương vụ này. Securency đã trả nhiều triệu đô la hoa hồng cho các giám đốc của CFTD có quan hệ với các nhân vật chính trị của Việt Nam.”

Phía Úc vẫn chưa đưa vụ án ra tòa và nhà nước Việt Nam vẫn chưa có phản ứng chính thức nào về sự kiện này.

Bài đã đăng trên VOA
Nguồn : MinhBien.ORG

Khi sĩ phu ngoảnh mặt


“…Gần đây có hiện tượng rất đáng lo: một số người vốn rất có trách nhiệm, là trí thức lớn của đất nước, đã tỏ ra chán nản, thậm chí tuyên bố sẽ im lặng. Đó là điều mà Lê Quý Đôn xưa đã gọi là “sĩ phu ngoảnh mặt”. Là dấu hiệu báo động. Vậy mà người ta đang điếc với cả báo động đó!…”


Hội nhập văn hoá “về hình thức” là gì, thưa ông? Việc chúng ta rất hãnh diện với các loại hình văn hoá phi vật thể được thế giới công nhận trong đó có ca trù được đưa vào danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của UNESCO có là bình thường không, thưa ông?


Tôi không hiểu lắm mấy chữ “về hình thức” trong câu hỏi. Hội nhập thì bao giờ cũng là hội nhập về thực chất, sao lại có chuyện “về hình thức”? Nhưng nhân đây có thể nói một điều theo tôi là cần thiết và quan trọng. Tôi thấy hình như chúng ta thường không hiểu đúng và không nói đúng về hội nhập, bàn về hội nhập chúng ta thường nói đến chuyện du nhập hay không du nhập cái này cái nọ vào xã hội, vào đời sống văn hoá của ta. Và rồi tranh cãi về những cái đó. Hoặc lo lắng hội nhập thì được gì, mất gì… Nghĩ như vậy thì hẹp và đúng là “hình thức” quá, lúng túng, rối ren, và chẳng có ý nghĩa gì nhiều. Có lẽ cần đặt vấn đề một cách khác. Chắc cũng có thể nói một cách đơn giản, dễ hiểu, mà lại cơ bản hơn: hội nhập nghĩa là cố gắng sống được một cách văn minh cho bằng thiên hạ bây giờ, và theo cách của mình.


Có thể như thế được không? Theo tôi là có. Vì ta từng sống văn minh. Vừa rồi tôi sang Lào, đi khắp từ nam đến bắc, gần như tuyệt đối không hề nghe thấy tiếng còi ô tô. Người lái xe, đến ngã tư bao giờ cũng từ tốn dừng lại, nhìn trước nhìn sau, nhường đường cho người khác, nhẹ nhàng và đúng luật. Tôi nghĩ trong một chuyện nhỏ đó có cả hai mặt: họ biết thực hiện giao thông hiện đại một cách văn minh, và sự từ tốn văn minh đó lại cũng bắt nguồn từ tính chất dân tộc ôn hoà lâu đời. Vậy đó, họ đã hội nhập hơn ta nhiều, họ tự nâng mình lên đến trình độ giao thông văn minh của thế giới trên cơ sở bản tính tốt đẹp truyền thống của dân tộc. Thật đáng buồn, chắc ai cũng hiểu không biết đến bao giờ ta mới “hội nhập” được cho bằng họ, chẳng hạn về mặt này! Ở đây có chuyện tương tự như trong kinh tế: muốn thu hút được nhiều vốn tốt bên ngoài thì ta cũng phải có “vốn đối ứng” mạnh. Chính vì vốn đối ứng văn hoá của ta đã bị suy sút nặng nề nên ta rất lúng túng về hội nhâp, vừa lạc hậu vừa yếu, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, và lại rối ren trong tiếp nhận.


Vui vì Quan họ hay Ca trù được công nhận là di sản văn hoá thế giới cũng tốt thôi, chẳng tội tình gì. Nhưng từ trong một chiếu ca trù tinh tế đến từng miếng gõ sanh tuyệt diệu… để rồi vừa bước ra khỏi cửa đã gặp và lao ngay vào cuộc giao thông hỗn hào trên đường, thì lẽ ra càng đáng xấu hổ hơn, chẳng có gì để mà hãnh diện!


Tôi nghĩ cũng có thể nói vấn đề của ta hiện nay là thế này: những cái tinh tế, tuyệt vời được nâng niu như Quan họ, Ca trù (mà ta đem khoe với thế giới) đang rơi lọt thỏm vào một biển văn hoá xã hội hỗn hào!


Không ít lần ông đã phải đau lòng đến mức nói rằng “thực trạng văn hoá đang xuống cấp”, ông nhìn thấy ở năm 2009 những điều cụ thể nào minh chứng cho sự đau đớn ấy?
Những “đau lòng” trong năm 2009 cũng chẳng có gì mới hơn đâu, vẫn tiếp tục và chỉ có nặng thêm hơn thôi. Vấn đề không phải chỉ là ở những biểu hiện cụ thể, báo chí hằng ngày dù đã “được” kiềm chế, cũng đã phơi ra vô vàn. Vấn đề là xem ra tốc độ xuống dốc ngày càng tăng, và chưa thấy có bất cứ dấu hiệu nào có thể kìm hãm hoặc thậm chí làm chậm lại đôi chút.


Cần chú ý điều này: có người đã nói đến nguyên nhân ở “lỗi thiết kế”. Tức là ở hệ thống chứ không chỉ ở cái cụ thể. Có một điều gì đó không ổn ở trong hệ thống. Nếu không làm sao giải thích xu thế và gia tốc vừa nói?


Xin nói chẳng hạn một ví dụ về giáo dục. Vừa rồi trong một cuộc hội thảo có người đã nêu hiện tượng: hầu hết những người đang làm việc trong ngành giáo dục mà tương đối có điều kiện đều cho con mình ra học ở nước ngoài, ngay cả ở cấp phổ thông. Trong khi đó họ chăm chú, cần mẫn, ráo riết đem nền giáo dục mà chính họ chối bỏ cho con cái mình áp đặt cho con cái tuyệt đại đa số nhân dân không có được điều kiện như họ. Nói thế nào đây về chuyện này, nếu không phải là một sự thách thức, một sự bất lương công khai?


Nhưng cũng sẽ có những điểm sáng đáng mừng chứ, ông nhận thấy ở giới trẻ người Việt hôm nay những đốm sáng lấp lánh nào để thế hệ ông “an lòng” không?


Tôi đã có lần nói, và xin nói lại: tôi không mất lòng tin ở lớp trẻ. Theo tôi, nhìn chung họ đang phản kháng lại nền giáo dục tệ hại đang được áp đặt cho họ (nền giáo dục mà chính những người làm giáo dục đang chối bỏ cho con cái mình). Bằng nhiều cách, công khai hay im lặng. Ngay cả các em đang hư hỏng cũng là một cách biểu hiện phản kháng, nói theo cách nào đó đấy cũng là tích cực. Tích cực một cách đáng buồn!


Tội là ở chúng ta.


Trong bất cứ xã hội nào, giáo dục bao giờ cũng là cái nền. Lỗi ở giáo dục thì thuộc lỗi hệ thống. Có điều rất lạ: cho đến nay Bộ Giáo dục & Đào tạo vẫn nhất quyết không chịu cải cách giáo dục, chỉ kiên trì làm cái “chiến lược” cũ kỹ què quặt của họ thôi.


Trong khi đó tôi đã biết một số môi trường, tiếc là còn rất ít, nơi tạo được một không khí cởi mở, lành mạnh, trí thức. Ở đấy tôi đã gặp một số bạn trẻ, chỉ cần môi trường đó thôi, gặp nó họ như được giải phóng, bộc lộ tiềm năng hoá ra là rất phong phú, họ bổng khác hẳn, tự chủ, tự tin, tự do, đầy sức sống, đầy khát khao. Rất đáng trách là những môi trường như vậy đang bị ngăn cản và thu hẹp.


Những người làm văn hoá ở Việt Nam có đang thực sự tham dự vào mỗi biến chuyển của đất nước hôm nay không, theo ông?


Đã là người làm văn hoá chân chính thì đều khát khao tham gia – chứ không phải chỉ tham dự – vào biến chuyển tốt đẹp của đất nước. Vấn đề là tự do cho sự tham gia, cống hiến đó. Tất nhiên ở đâu cũng có kẻ tốt người xấu, người chân chính kẻ cơ hội. Có điều đáng chú ý: khi những người chân chính, thẳng thắn, cương trực bị dẹp đi, thì đám cơ hội mọc lên nhiều, những kẻ làm văn hoá dỏm, chẳng bao giờ thiếu, sẽ trỗi dậy như nấm.


Gần đây có hiện tượng rất đáng lo: một số người vốn rất có trách nhiệm, là trí thức lớn của đất nước, đã tỏ ra chán nản, thậm chí tuyên bố sẽ im lặng. Đó là điều mà Lê Quý Đôn xưa đã gọi là “sĩ phu ngoảnh mặt”. Là dấu hiệu báo động. Vậy mà người ta đang điếc với cả báo động đó! 

Năm 2010, chúng ta sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, trước đó đã có rất nhiều những hoạt động khác nhau để chuẩn bị chào mừng như con đường gốm sư, phim Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ… Ông có nhìn nhận gì về những hoạt động đó? Có phải đại lễ này chưa đến nhưng đang như “một miếng giữa làng” không, thưa ông?

Cho tôi nói thật: tôi không quan tâm nhiều lắm đến những hoạt động “đại lễ” ấy. Những vấn đề gốc rễ của văn hoá không giải quyết trong và bằng các đại lễ. Tôi cũng chẳng phản đối, tất nhiên, nhưng thôi thì cứ làm đi, vừa vừa thôi, đừng “đại” quá, dành tiền và nhất là dành suy ngẫm, tâm huyết cho những bài toán lớn, sâu hơn nhiều đang chưa có lời giải. Chẳng hạn bài toán giáo dục, chìa khoá của mọi bài toán lớn nhỏ khác. 

Ông chờ đợi gì ở những khởi sắc cho văn hoá dân tộc trong năm 2010 với những vận hội và đại lễ lớn?

Không bao giờ nên chờ “khởi sắc văn hoá” trong một năm, dù là năm nhiều “đại lễ”. Và đại lễ với vận hội thì có liên quan gì với nhau?


Những vấn đề văn hoá luôn luôn là những vấn đề dài hạn. Như vấn đề “thiết kế” nói trên. 

Trân trọng cảm ơn ông.

Nguyên Ngọc
Nguồn: quechoa

Đại Sứ Trung Quốc Tại Hà Nội Thách Đố Dân Tộc Việt Nam



12 ngày trước khi diễn ra các buổi lễ xưng tụng về 60 năm quan hệ Việt Trung (18/1/1950 – 18/1/2010), ngày 6 tháng 1 vừa qua, ông Tôn Quốc Tường, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã có một buổi họp báo tại Hà Nội. Đa số nội dung xoay quanh vấn đề biển Đông và những quan điểm của Bắc Kinh liên quan đến mối quan hệ Việt Trung. Trong các phát biểu của Tôn Quốc Tường, quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề biển Đông đã cho thấy rõ “thái độ câu giờ” đối với Cộng sản Việt Nam và “hăm dọa” đối với dân tộc Việt Nam.


Về phía Cộng sản Việt Nam, Tôn Quốc Tường khuyên nên: tạm gác lại “tranh chấp” biển Đông, chờ điều kiện chín mùi rồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước. Họ Tôn cho rằng hai phía đã giải quyết xong vấn đề phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Việt; còn việc giải quyết vấn đề biên giới trên biển thì nên gác lại khi điều kiện thuận tiện.


Về phía dân tộc Việt Nam, Tôn Quốc Tường cho là: hợp tác sẽ phát triển (còn) đấu tranh sẽ thất bại. Tuy họ Tôn nói ngắn gọn, nhưng qua lời phát biểu này, rõ ràng là Tôn Quốc Tường đã nói lên quan điểm của Bắc Kinh và của cả lãnh đạo Hà Nội rằng họ sẽ trấn áp và tiêu diệt mọi nỗ lực đấu tranh chống lại sự bá quyền của Bắc Kinh trên biển Đông mà họ gọi là biển Nam Hải.


Điều chúng ta cần nói rõ ở đây là căn cứ trên Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào năm 1988, Trung Quốc không có một cơ sở pháp lý nào để có chủ quyền trên biển Đông. Những chủ trương mà Bắc Kinh đưa ra vùng chủ quyền hình lưỡi bò trên biển Đông chỉ là sự xâm chiếm trắng trợn, như họ đã từng xâm chiếm Hoàng sa (1974) và Trường sa (1988) của Việt Nam. Do đó cái gọi là “tranh chấp” biển Đông do phía Bắc Kinh đưa ra chỉ là để từng bước hợp thức hóa sự xâm chiếm của họ và đặt các quốc gia liên hệ ở vào thế đã rồi trong tiến trình gọi là “đàm phán song phương”. Đây là thủ đoạn mà Bắc Kinh đã từng dùng đối với Nhật Bản khi tranh chấp quần đảo Senkaku. Hay đối với Nam Dương, khi Bắc Kinh đổ tiền viện trợ để qua đó, thuyết phục Nam Dương đồng ý gác lại các tranh chấp, hầu cùng nhau khai thác vùng “tranh chấp” biển Đông.


Đến lượt Việt Nam, giọng điệu của Tôn Quốc Tường cho ta thấy rõ là Bắc Kinh đang dùng đối sách: vừa chiêu dụ, vừa răn đe để từng bước khống chế biển Đông.


Thứ nhất, chủ trương “tạm gác lại tranh chấp, chờ cơ hội chín mùi” là một đòn hiểm độc của Bắc Kinh. Trung Quốc đã thành công trong việc xâm chiếm 75% thềm lục địa của Việt Nam, khi biến nó trở thành nơi gọi là “tranh chấp”. Mặt khác, quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh hiện nay không phải là mối quan hệ bình đẳng. Trung Quốc vừa là quan thầy, vừa là chỗ dựa của Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Do đó, nếu có mang ra “đàm phán” thì Cộng sản Việt Nam sẽ phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Kinh đưa ra như họ đã từng để mất 700 cây số vuông biên giới qua Hiệp ước về biên giới trên đất liền (1999) và mất hơn 10 ngàn cây số vuông biển qua Hiệp định phân ranh Vịnh Bắc Việt (2000). Chờ cho đến “cơ hội chín mùi” cũng là cách mà Hà Nội muốn nhờ Tôn Quốc Tường nói dùm với công luận Việt Nam để không phê phán những hành động yếu hèn của Cộng sản Việt Nam hiện nay.


Thứ hai, chủ trương “hợp tác cùng nhau phát triển kinh tế xã hội giữa hai nước” là sự phủ dụ của quan Thái Thú đối với tiểu quốc chư hầu. Kinh tế Việt Nam hiện nay hoàn toàn bị chi phối bởi hàng hóa Trung Quốc, với độ nhập siêu từ Trung Quốc càng ngày càng nhiều - tăng từ 200 triệu Mỹ Kim năm 2001 lên đến 4,1 tỷ Mỹ Kim năm 2003, 7 tỷ Mỹ Kim năm 2007, 11 tỷ Mỹ Kim năm 2008. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc những sảm phẩm thô, hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 4,2 tỷ Mỹ Kim gồm dầu thô, cao su, cà phê, than đá và lâm thủy sản; trong khi Việt Nam nhập từ Trung Quốc 15,2 tỷ Mỹ Kim gồm hàng công nghiệp và đồ gia dụng. Họ Tôn nói rằng, Trung Quốc sẽ cố gắng đẩy kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 25 tỷ Mỹ Kim trong năm nay, cho thấy là Việt Nam tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc từ 15 đến 16 tỷ Mỹ Kim. Điều này cho thấy là sự “hợp tác” mà họ Tôn đề xướng chỉ là đưa Việt Nam vào vòng khống chế của Bắc Kinh mà thôi.


Thứ ba, chủ trương “đấu tranh sẽ thất bại” là lời răn đe và cảnh cáo của họ Tôn đối với dân tộc Việt Nam. Khi phóng viên của tờ Tiền Phong hỏi về vụ Ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đánh đập, cướp những dụng cụ đánh cá thì họ Tôn đã cho rằng đó là những tin tức sai sự thật. Họ Tôn nói rằng chính ông ta kiểm chứng thì hải quân Trung Quốc đã đối xử rất nhân đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân cập bến khi bị tai nạn ngoài khơi. Luận điệu tráo trở nói trên của họ Tôn chính là chủ trương hai mặt của Bắc Kinh: thần phục hay là bị tiêu diệt. Trong quan điểm của họ Tôn thì biển Đông đã nằm trong chủ quyền của Bắc Kinh, và vì thế người Việt Nam không nên “tranh đấu” để giành lại vì Trung Quốc sẽ sẵn sàng ra tay. Việc một viên đại sứ dám tuyên bố ngay tại Thủ đô của một nước đang có vấn đề với quốc gia họ bằng giọng điệu thách đố “đấu tranh sẽ thất bại” trong dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ, rõ ràng là họ Tôn và tập đoàn Bắc Kinh đã không những coi thường lãnh đạo Hà Nội mà còn khống chế và sai khiến tập đoàn này, đàn áp mọi cuộc tranh đấu bảo vệ Hoàng sa – Trường sa như đã từng đàn áp vụ 9 nhà dân chủ bị kết án 59 năm tù vì tội đã treo biểu ngữ chống Trung Quốc.


Qua những phát biểu của họ Tôn nói trên, lòng tự trọng và lòng yêu nước của người dân Việt Nam sẽ không thể nào im lặng trước sự thách đố của Bắc Kinh. Khi dùng đến nhóm từ “Đấu tranh sẽ thất bại” cho thấy là Bắc Kinh đã thấy rõ sức đề kháng mạnh mẽ và liên tục của người dân Việt Nam trong nhiều năm vừa qua. Đặc biệt là từ khi có những cuộc biểu tình của thanh niên sinh viên, văn nghệ sĩ vào cuối năm 2007 nhằm chống lại Bắc Kinh cho lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam để quản trị hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Ngoài ra, những cơ quan truyền thông của Cộng sản Việt Nam loan tải rộng rãi lời thách đố của họ Tôn sau cuộc họp báo, chứng tỏ là Hà Nội cũng đã đồng tình và muốn nhờ lời của họ Tôn để răn đe những ai đặt vấn đề xâm chiếm biển Đông của Bắc Kinh đối với lãnh đạo Hà Nội kể từ nay.


Đây là một sự nhục nhã của dân tộc Việt Nam có giòng máu bất khuất, oai hùng. Đây là dấu hiệu cho thấy là sau khi mất đất biên giới, mất vùng biển Vịnh Bắc Việt, việc mất biển Đông chỉ còn là thời gian nếu chúng ta không hành động kịp thời.


Lý Thái Hùng
Ngày 8/1/2010.

Đàn áp tôn giáo : Máu đổ ở Đồng Chiêm, dải khăn sô ngày đầu năm...


Hà Nội, 2giờ00 sáng, ngày 6 tháng 1 năm 2010, lợi dụng cha xứ và cha phó xứ tham dự kỳ tĩnh tâm hàng tháng tại Tòa Tổng giám mục Hà Nội, chính quyền Hà Nội đã huy động một lực lượng rất đông cán bộ, công an khoảng 1000 người bao vây xứ Đồng Chiêm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, đập phá cây thánh giá được giáo dân Đồng Chiêm trồng trên Núi thờ vào dịp Mùa chay 2009 vừa qua.

Các nẻo đường dẫn vào giáo xứ đồng chiêm đều bị phong tỏa. Các giáo xứ bên cạnh như Nghĩa Ải, Gò Mu, Đồng Gianh… đều có công an án ngữ, ngăn cản không cho tới Đồng Chiêm.



Hàng ngàn cảnh sát, công an các loại với dụng cụ hỗ trợ dùi cui, roi điện, mìn, pháo mù đã tới bao vây giáo xứ Đồng Chiêm, xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, điên cuồng dùng mìn tự tạo phá dỡ cây thánh giá được giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm dựng trên Núi Chẽ còn gọi là Núi Thờ.
Ba giáo dân đã bị đánh trọng thương tới độ ngất xỉu và được chính quyền chuyển đi nơi khác mà không ai biết giờ họ đang ở đâu. Nhiều giáo dân khác bị đánh trọng thương, người gẫy chân, người gãy tay.


Ngày 6/1/2010 đã trở thành ngày tang tóc của giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm. Với lực lượng hùng hậu gồm: súng, lựu đạn, hơi cay, chó nghiệp vụ và cảnh sát các loại, chính quyền Hà Nội đã thẳng tay đàn áp các giáo dân vô tội.


Hình ảnh những cụ bà, các chị phụ nữ nằm trên vũng máu đã nói lên tất cả sự gian ác của chính quyền cộng sản. Những hình ảnh sau đây sẽ nói thay tất cả
 
Chiều ngày 6/1/2010, toàn thể các linh mục Tổng giáo phận Hà Nội tham dự kỳ tĩnh tâm tháng tại Tòa Giám mục đã lên đường tới giáo xứ Đồng Chiêm để hiệp thông và chia sẻ với giáo xứ cơn bách hại đạo lớn nhất từ trước tới nay.
 



Bầu khí hoảng loạn bao trùm giáo xứ. Những khuôn mặt thất thần lộ vẻ u uất nghèn nghẹn.

Vành khăn tang trắng xóa chít chặt mọi mái đầu từ già đến trẻ. Những tiếng nấc nghẹn ngào cùng giòng lệ tuôn rơi trên những khuôn mặt khắc khổ sương gió càng làm cho ngày đại nạn của Đồng Chiêm thêm u buồn.
 

 


Cây thánh giá bằng tre được dựng vội tại hiện trường với cờ tang ủ rũ, những nén nhang cháy dở, khiến ai cũng chạnh lòng.
Những quả “nổ nghiệp vụ”, những vỏ “bình xịt hơi cay” được công an vứt lại hiện trường như thách thức công luận.
Chiều nay, mọi con đường dẫn tới giáo xứ Đồng Chiêm đã được giải tỏa. Theo các giáo dân cho biết, sau khi phá đổ cây thánh giá trên Núi Chẽ, chính quyền tức tốc rút lui chỉ để lại những cảnh sát chìm để tiếp tục theo dõi mọi người tới giáo xứ.
Núi Thờ vốn là nghĩa trang đồng nhi của giáo xứ, nơi an táng các thai nhi vô tội và những người vãng lai bị chết mà không có nơi chôn cất.


Trước đây, trên Núi thờ (còn gọi là Núi Chẽ), để tỏ lòng tôn kính giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm đã dựng lên một thánh giá gỗ. Trải qua năm tháng, cây thánh giá gỗ bị gãy đổ, vì thế, Mùa chay 2009 vừa qua, giáo dân đã cùng nhau dựng lên cây thánh giá cốt thép xi măng.
Những ngày giáo dân dựng thánh giá, chính quyền huyện Mỹ Đức đã tới chứng kiến việc dựng thánh giá và không hề có ý kiến gì.
Việc chính quyền Hà Nội phá dỡ thánh giá – biểu tượng niềm tin của người Công giáo, ngay sau khi Nguyễn Minh Triết thăm Vatican, trong thời điểm Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, báo hiệu Mùa Thương khó mới bắt đầu.
Tổng hợp tin từ DCCTVN, NuVuongCongLy